|
Nhà Nước Việt-Nam Phải Chấm Dứt Độc Quyền
Nhập Cảng Các Sản Phẩm Văn Hoá và Thông Tin
NGUYỄN QUỐC KHẢI
DVD
Paris By Night và Asia và những sản phẩm văn hóa thông tin sẽ được nhập
cảng chính thức vào Việt-Nam một ngày gần đây ? Câu trả lời ngắn gọn:
“Điều này có thể xẩy ra sau khi Việt-Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc
Tế”. Chỉ vài năm trước đây vấn đề này là hoàn toàn không tưởng, nhưng có
thể thực hiện vào năm tới. Luật lệ đă sẵn sàng. Tuy nhiên, kết quả
thực sự ra sao c̣n tùy thuộc vào cuộc vận động hữu hiệu của cộng đồng
người Việt hải ngoại ở khắp nơi từ
Canada, Hoa-Kỳ, Âu
châu qua Úc châu.
T́nh trạng độc
quyền mua bán sản phẩm văn hóa và thông tin của CSVN
Hiện
nay CSVN được tự do xuất cảng sách, báo, băng nhạc, băng h́nh, phim ảnh,
các sản phẩm văn hoá và truyền thông, v.v. đi khắp nơi trên thế giới, đặc
biệt là những nơi có đông người Việt sinh sống như tại Hoa-kỳ, Canada, Úc
châu, và Âu châu. Trong khi đó chính phủ Hà-nội có độc quyền tuyệt đối về
dịch vụ nhập cảng những thứ hàng tương tự vào Việt-Nam. Nhờ sự độc quyền
này mà chính quyền Hà-nội ngăn chặn sách, báo, phim ảnh, v.v. sản xuất ở
hải ngoại, đặc biệt là những sản phẩm bằng tiếng Việt, nhập cảng vào trong
nước. Việc mua bán môt chiều này gây thiệt hại cho cộng đồng người Việt ơ
hải ngoại và một phần làm cho cán cân thương mại thặng dư của Việt-Nam đối
với Hoa-kỳ ngày càng gia tăng. Vào năm 2000, số lượng hàng hoá Việt-Nam
bán cho Hoa-kỳ nhiều hơn là mua của nước này là US$454 triệu. Ba năm sau
con số này tăng 7 lần và lên đến US$3.2 tỉ vào năm 2003.
Tại sao lại có
hiện tượng độc quyền lạ lùng như thế ?
Chính
phủ Bill Clinton khi thương lượng Hiệp định thương mại song phương với
Hà-Nội đă không hỏi ư kiến cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Một vài chuyên
viên của cộng đồng người Việt đă liên lạc với Văn pḥng Đại diện Mậu dịch
của Hoa-kỳ (Office of U.S. Trade Representative), nhưng nhân viên của văn
pḥng này được lệnh không tiết lộ chi tiết nào cho đến khi Hiệp định
thương mại được đại diện chính phủ của hai nước kư vào tháng 7 năm 2000.
Khi kư
Hiệp định thương mại song phương với Việt-Nam (U.S. – Vietnam Bilateral
Trade Agreement viết tắt là BTA), Hoa-kỳ đă đồng ư cho phép Việt-Nam độc
quyền nhập cảng này. Hơn nữa, chỉ có các công ty quốc doanh mới được
nhập cảng vào Việt-Nam những sách báo, sản phẩm văn hóa và thông tin, v.v.
do nhà nước chọn lựa. Số sản phẩm thuộc về loại này được liệt kê
rơ ràng trong Phụ Lục C1 của Hiệp Định Song Phương Mỹ Việt. Ngoài ra,
chính quyền Hà-nội, qua các doanh nghiệp nhà nước, c̣n được độc quyền phân
phối những sản phẩm văn hoá và thông tin trong quốc nội theo Phụ Lục H của
hiệp định song phương.
T́nh trạng độc
quyền này gây thiệt hại cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại v́ sản phẩm
như sách báo, phim ảnh do người Việt ở hải ngoại sản xuất không có quyền
bán ở trong nước v́ chính phủ Hà-Nội dùng hiệp định song phương với Hoa-kỳ
cấm cản.
T́nh trạng mua bán này là một bất công trắng trợn đối với Hoa-kỳ nói
chung và đặc biệt đối với khối người Mỹ gốc Việt. Tệ hại hơn nữa là một số
sản phẩm sản xuất ở hải ngoại được đem “lén lút” vào Việt-Nam để sao chép
biến chế thành hàng lậu, sau khi đă vứt bỏ những phần không hợp với chính
sách và chủ trương của chính quyền Hà-Nội. Một số hàng lậu này t́m đường
quay trở lại nơi sản xuất gốc để tiêu thụ với giá một phần ba hay một nửa
giá gốc, cạnh tranh ngay với chính sản phẩm gốc.
Cơ hội sửa sai
Sự
ngăn cấm nhập cảng vừa kể của chính quyền Hà-Nội không những phản lại
nguyên tắc mua bán tự do và công b́nh mà nó c̣n phản lại nguyên tắc tự do
thông tin và ngoại giao b́nh đẳng giữa các quốc gia với nhau.
Hiệp
định thương maị song phương Việt-Mỹ đến cuối năm 2004 là hết hạn 3 năm đầu
tiên. Nếu đôi bên không đưa một khiếu nại nào hay muốn có sự thay
đổi 30 ngày trước khi thời gian 3 năm hết hạn vào giữa tháng 11 năm nay,
hiệp định thương maị song phương Việt-Mỹ đương nhiên được triển hạn thêm 3
năm nữa (tháng 12, 2004 – tháng 12, 2007). Việt-Nam bán cho
Hoa-kỳ một số hàng trị giá 4.6 tỉ Mỹ kim và mua của Hoa-Kỳ chỉ có 1.3 tỉ
Mỹ kim trong năm 2003. Đối với Việt-Nam, Hoa-kỳ trở thành một trong những
thị trường chính yếu. Việt-Nam rất mong muốn hiệp định thương maị
song phương Việt-Mỹ triển hạn thêm 3 năm nữa. Do đó đây là lúc phải gấp
rút đưa ra yêu cầu đ̣i chính phủ Hà-Nội bỏ độc quyền nhập cảng và phân
phối kể trên.
Ngoài
ra Việt-Nam đang muốn gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (World Trade
Organization viết tắt là WTO) và muốn vào cơ quan này càng sớm càng tốt,
chậm lắm là vào cuối năm 2005, để khỏi mất thị trường hàng dệt và quần áo
tại Hoa-kỳ và Âu châu. Việc thương lượng song phương với các nước hội viên
và đa phương với tổ chức Liên Hiệp Âu châu và WTO này đang tiến hành.
Cơ
quan WTO cho phép các quốc gia duy tŕ một số công ty quốc doanh với những
điều kiện khó khăn. Thứ nhất là những công ty này phải hoạt động trên căn
bản hoàn toàn có tính cách thương mại, tôn trọng nguyên tắc không kỳ thị
và vấn đề mua bán phải dựa trên các yếu tố như giá cả, phẩm chất, có sẵn,
khả năng tiếp thị, chuyên chở, v.v. Thứ hai là các công ty quốc doanh phải
hoàn toàn tự trị và trách nhiệm về lời lỗ (Article XVII – GATT và Article
VII – GATS). các công ty quốc doanh phải tường tŕnh mọi hoạt động cho WTO.
Ngoài ra nguyên tắc đối xử quốc gia (national treatment) của WTO đ̣i hỏi
rằng, Việt-Nam phải đối xử các công ty bản địa và ngoại quốc ngang hàng.
Do đó việc Việt-Nam cho phép công ty quốc doanh độc quyền nhập cảng
sản phẩm văn hoá và thông tin hoàn toàn trái với luật WTO.
Để
tránh những điều kiện khắt khe về việc duy tŕ các xí nghiệp quốc doanh,
phần lớn các nước hội viên của WTO, nhất là các quốc gia có nền kinh tế
đang chuyển từ hệ thống chỉ huy qua thị trường, chọn lựa cách cổ phần hoá
/ tư nhân hoá hầu hết các công ty này. Hơn nữa đa số các xí nghiệp quốc
doanh làm ăn lỗ lă, làm thiệt hại cho ngân sách quốc gia.
Làm thế nào để
thay đổi t́nh trạng phi lư và bất công này ?
Việc độc quyền
nhập cảng đối với bất cứ sản phẩm và dịch vụ nào bởi các xí nghiệp quốc
doanh đều trái với nguyên tắc tự do thương mại thế giới. Nhưng không v́
thế mà Việt-Nam sẽ phải tự động bỏ những độc quyền đang có, kể cả độc
quyền nhập cảng sản phẩm văn hoá và thông tin. Mọi quyết định trên thực
tế vẫn dựa vào sự thương lượng song phương và đa phương. Việt-Nam
đang chuẩn bị cuộc đàm phán song phương với Hoa-kỳ vào cuối tháng 10 và
ṿng đàm phán đa phương sắp tới vào tháng 12 năm nay. Do đó, đây là lúc
thuận lợi cần phải đ̣i hỏi Việt-Nam bỏ độc quyền nhập cảng các sản phẩm
văn hoá và thông tin như một trong những điều kiện để được vào cơ quan WTO.
Cộng
đồng Việt-Nam tại các quốc gia buôn bán nhiều với Việt-Nam cần vận động
với các nhà lập pháp và các cơ quan hành pháp liên hệ để đưa vấn đề này
vào nghị tŕnh thương thuyết. Hoa-kỳ, Úc Châu, Canada, Liên hiệp Âu châu,
Anh, Pháp, Đức, Hoà-lan, và Bỉ là những nơi cộng đồng Việt-Nam có tiếng
nói mạnh mẽ. Việc vận động có thể qua những vị dân biểu hay nghị sĩ nơi
ḿnh cư ngụ hoặc trực tiếp với cơ quan phụ trách mậu dịch quốc tế.
Sự đ̣i hỏi này hoàn toàn hợp với nguyên tắc công bằng và luật lệ thương
mại quốc tế. Không ai có thể biện minh cho việc duy tŕ sự độc quyền nhập
cảng và phân phối phi lư này.
Công
cuộc vận động của cộng đồng Việt-Nam đ̣i CSVN bỏ độc quyền nhập cảng và
phân phồi sản phẩm văn hoá và thông tin đang tiếp diễn tại nhiều nơi, đặc
biệt là Hoa-kỳ, Canada, Úc, Đức, Pháp và Hoà lan. Hai dân biểu Mỹ tiên
phong giúp cho chiến dịch này là Frank R. Wolf (CH, Virginia) và Chris Van
Hollen (DC, Maryland). Thay mặt công đồng Việt-Nam ở vùng Washington, DC,
hai ông đă tiếp xúc với Đại Sứ Robert B. Zoellick, Đại Diện Văn Pḥng Mậu
Dịch của Hoa-kỳ (Office of the U.S. Trade Representative viết tắt là USTR)
đặc trách về WTO và BTA.
Các tổ
chức của cộng đồng Việt-Nam cần tiếp xúc gấp với đại diện dân cử địa
phương để gây thêm áp lực với hành pháp mới mong có kết quả. Nếu chiến
dịch này thành công, cộng đồng Việt-Nam có thể xuất cảng văn hoá phẩm về
Việt-Nam và chính quyền Hà-Nội sẽ không c̣n bưng bít thông tin trong nước
được nữa và sẽ giúp cho kinh tế Việt-Nam phát triển mau lẹ hơn. Vấn đề
chống độc quyền nhập cảng và phân phối văn hoá phẩm và thông tin quan
trọng không kém ǵ luật Nhân Quyền.
Trong những tuần lễ sắp tới đây, người ta hi vọng một số các nhà lập pháp
Hoa-Kỳ khác sẽ lên tiếng đ̣i Việt-Nam băi bỏ độc quyền nhập cảng các sản
phẩm văn hoá và thông tin.
Tưởng
cũng cần nói thêm là giao lưu văn hoá hai chiều cũng là một vấn đề quan
trọng, rộng lớn hơn và thuộc về khu vực dịch vụ. Hiệp định thương maị
song phương Việt-Mỹ có những điều khoản nói về nhiều dịch vụ một cách giới
hạn như viễn thông, tài chánh, du lịch, y tế, pháp lư, tư vấn, v.v. Nhưng
không có điều khoản nào nói về dịch vụ văn hóa và giải trí.
Chúng
ta không chủ trương ngăn chặn không cho Việt-Nam vào WTO. Trái lại chúng
ta mong muốn Việt-Nam được gia nhập cơ quan WTO đúng lúc và đúng cách,
được đối xử công bằng trong cộng đồng kinh tế thế giới. Nhưng đồng thời
quyền lợi của cộng đồng người Việt ở hải ngoại và nhân dân dân Việt-Nam ở
trong nước được bảo vệ. Gia nhập WTO và thi hành BTA là những cơ hội cho
Việt-Nam thực hiện những cải tổ kinh tế sâu rộng. Khu vực tư nhân nhờ vậy
sẽ lớn mạnh và người dân sẽ có nhiều tự do làm ăn buôn bán hơn.
Lập trường của Văn
Pḥng Đại Diện Thương Mại Hoa-kỳ (USTR)
và Hà-nội hiện nay
ra sao ?
Tại
buổi điều trần trước Tiểu Ban Chuẩn chi Ngân sách cho các Bộ Thương mại,
Tư pháp và Ngoại giao tại Quốc hội Hoa-kỳ vào ngày 25 tháng 3 năm nay,
dưới sự chủ tọa của Dân biểu Frank Wolf, Chủ tịch Tiểu Ban, Đại sứ Robert
Zoellick của Văn pḥng USTR tuyên bố rằng, Hoa-kỳ “có thể” chặn Việt-Nam
không cho vào WTO nếu quốc gia này tiếp tục cho các xí nghiệp quốc doanh
độc quyền nhập cảng sách báo, phim ảnh, sản phẩm thông tin, v.v. Dân
Biểu Frank Wolf nhấn mạnh với Văn Pḥng USTR rằng Hoa-Kỳ “sẽ phải làm như
thế.”
Trên
đây là kết quả sơ khởi của cuộc vận động của cộng đồng Việt-Nam tại Hoa-kỳ.
Vào tháng 6 năm 2003, việc đ̣i hỏi quyền đưa sách báo từ hải ngoại vào
trong nước đă được một vài người Việt nêu lên khi phái đoàn liên ngành do
ông Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt-Nam Nước ngoài
Nguyễn Đ́nh Bin đến Thủ đô Hoa kỳ để cổ động cho kế hoạch kiều vận và đại
đoàn kết dân tộc. Từ lúc đó cho tới nay, không ai thấy Hà-nội có một phản
ứng nào cả. Báo chí, Internet, và các phương tiện truyền thông khác vẫn bị
nhà cầm quyền Hà-nội kiểm soát chặt chẽ. Nhà nước không thể kêu gọi
đại đoàn kết trong khi bịt miệng những người Việt ở nước ngoài bắng cách
cấm sách báo, đĩa nhạc, băng h́nh sản xuất ở hải ngoại gửi vào trong nước.
Nay v́ nhu cầu cấp thiết phải gia nhập cơ quan WTO và triển hạn Hiệp định
Song phương Mỹ Việt, Hà-nội có thể sẽ phải nới lỏng vấn đề nhập cảng các
sản phẩm này.
Mới
đây, Văn Pḥng USTR chính thức xác nhận rằng, cơ quan này đă được lưu ư về
việc công ty quốc doanh Việt-Nam đang duy tŕ độc quyền và giới hạn việc
nhập cảng sách báo và các sản phẩm thính thị, đặc biệt các sản phẩm tiếng
Việt, từ Hoa-kỳ vào Việt-Nam. Bà Josette Sheeran Shiner, Phó Đại sứ của
Văn pḥng USTR, hứa hẹn rằng Hoa-kỳ sẽ thảo luận với Việt-Nam về mọi vấn
đề liên quan đến điều kiện để Việt-Nam gia nhập cơ quan WTO. Hoa-kỳ sẽ
đặc biệt nêu hai vấn đề sau đây với Việt-Nam trong những cuộc thương
thuyết sắp tới: (a) Xí nghiệp quốc doanh; (b) Xuất nhập cảng sách báo và
những sản phẩm thính thị. ♣
Mục Thời sự Tạp chí
Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|