|
Việt-Nam Có Cần Một Chế Độ Độc Tài Hay Không
Để Trở Thành Một Con Rồng Mới Của Á Châu ?
“Dân chủ
không phải là một xa xỉ phẩm để phải đợi đến lúc giầu sang
mới được
hưởng thụ...Dân chủ là một yếu tố chứ không là kết quả của sự phát
triển.”
Nobel Laureate Amartya Sen
[1]
GS
NGUYỄN QUỐC KHẢI
Nhân chuyến
về Việt-Nam gần đây của ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống của
miền Nam Việt-Nam, một nhà báo ngoại quốc có hỏi ông nghĩ thế nào về
Đảng CSVN và chế độ phi dân chủ ở Việt-Nam hiện nay, ông Kỳ đă không
trả lời thẳng vào câu hỏi mà nói rằng “Điều mà tôi chú ư đến hiện
nay là vấn đề phát triển kinh tế... Ưu tiên là xây dựng kinh tế để
có giới trung lưu và sau đó chúng ta sẽ suy nghĩ về cải tổ chính trị.”
Ông Kỳ nói tiếp: “Khi ông nh́n vào những nước láng giềng của
Việt-Nam ở Á châu như
Nam Hàn, Đài
Loan, Tân Gia Ba. Trong giai đoạn đầu của việc xây dựng của các quốc
gia này, họ bắt đầu bằng một đảng.”
Ông Kỳ nhận
định tiếp rằng, nhờ vậy những quốc gia này thành công về mặt kinh tế.
Ở Nam Hàn có Park Chung Hee. Đài Loan có Koumintang (Trung Hoa Quốc
Dân Đảng), Nam Dương có Suharto, Phi Luật Tân có Marcos. Tân Gia Ba
có Lư Quang Diệu. Thái Lan có chính phủ quân nhân trong 50 năm. Các
quốc gia này được ông Kỳ coi là mẫu mực cho Việt-Nam trong giai đoạn
đầu của tiến tŕnh phát triển kinh tế.
Bài “Liệu
cải tổ kinh tế và mở của buôn bán với thế giới có mang lại tự do dân
chủ cho Việt-nam hay không?” đăng trên Thế Kỷ 21 số 176, tháng 12,
2003 đă tŕnh bầy ư kiến của một số học giả về sự liên quan giữa cải
tổ kinh tế và cải tổ chính trị.
[2] Kết luận chung là, cải tổ
kinh tế không tự động đưa đến tự do dân chủ. Lawrence
F. Kaplan nói: “Dân chủ là một lựa chọn chính tri, một hành động
quyết chí. Phải có người tạo dựng ra dân chủ, chứ không thể trông
chờ vào sự việc”
[3].
Tiến sĩ Vơ
Nhơn Trí, một cựu đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Việt-Nam
vừa xuất bản cuốn sách “Việt-Nam cần đổi mới thật sự,” cũng đă bàn
rất kỹ về vấn đề này.[Xem Website của Tạp chí Dân chủ & Phát
triển]. Bài tóm lược cuốn sách của TS Vơ Nhơn Trí hi vọng sẽ
được Thế Kỷ 21 đăng vào số tháng 3 sắp tới. Tác giả nhận định rằng
không thể tách dời hai việc đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
được. Theo quy luật biện chứng của chính những người Cộng Sản, nếu
không cải tổ chính trị th́ phát triển kinh tế Việt-Nam sẽ bị ḱm hăm
lại. Hiện tượng này đă bắt đầu xẩy ra từ năm 1997.
[4]
Bài
viết ở đây sẽ góp ư về vấn đề liệu có cần một đảng chính trị duy
nhất để có thể phát triển kinh tế một cách hữu hiệu hay không.
Ô. Kỳ là một quân nhân, nên khuynh hướng thiên độc tài của ông rất
dễ hiểu. Ông từng tuyên bố rằng người mà ông ái mộ nhất là Hitler và
Việt-Nam cần 4 đến 5 Hitlers.
[5]
[6] Người b́nh thường cũng nhận thấy
ngay rằng, quan niệm này đă đơn giản hóa tối đa một vấn đề phức tạp
và khó khăn. Thật vậy Trung Quốc, Miến Điện, Phi Luật Tân (vài chục
năm trước), và Pakistan đều là những quốc gia có chính thể độc tài
nhưng không những không trở thành những con rồng Á châu mà vẫn c̣n
là những nước nghèo đói. Ngược lại, Hồng Kông và Mă Lai là hai phần
đầt tương đối tự do, nhưng kinh tế phát triển khả quan. Kể từ 1975
đến nay Việt-Nam là một nước độc tài độc đảng. Nhiều người trông
đợi Á châu có thêm một con rồng mới là Việt-Nam nhưng sau 30 năm nó
vẫn là một “con rồng ngủ quên”.
[7] Ngay tại miền Nam Việt-Nam chế độ
độc tài gia đ́nh trị của hai ông Diệm-Nhu đă bỏ lỡ cơ hội xây dựng
đất nước. Chế độ kế tiếp của hai ông Thiệu-Kỳ cũng không phải là một
chế độ dân chủ thực sư v́ dân miền Nam đâu có thật sự bầu hai ông
lên đâu. Như vậy không thể nói rằng muốn phát triển kinh tế
phải có chế độ độc tài. Hơn nữa chúng ta chọn loại độc tài
nào bây giờ, bởi v́ cũng có nhiều thứ khác nhau: độc tài toàn trị,
độc tài pháp trị, độc tài quân phiệt, độc tài phong kiến, độc tài
phát xít, độc tài đảng trị, độc tài lănh tụ tuyệt đối, v.v. Nhưng
không cái ǵ nguy hiểm bằng độc tài mà bất tài.
Tất cả những
kinh tế gia, những nhà đầu tư, những người lănh đạo quốc gia đều
đồng ư rằng, một chế độ chính trị ổn định rất cần thiết cho phát
triển kinh tế. Tuy nhiên độc tài và ổn định chính trị là hai
vấn đề hoàn toàn khác nhau. Độc tài không phải là điều
kiện cần và đủ để bảo đảm một được chế độ chính trị ổn định bền vững.
Nhiều nước dùng quân đội và công an để cai trị nhưng sự ổn định
chính trị dưới các chế độ này đều là giả tạo. Điển h́nh là Đông Đức,
một nước dùng quân đội và mật vụ để duy tŕ sự ổn định chính trị
trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Vào tháng 6, 1989, lănh tụ Đông Đức
Erich Honecker tuyên bố rằng bức tường Bá Linh sẽ c̣n tồn tại 50 hay
100 năm nữa. Nhưng chỉ 5 tháng sau vào ngày 9.11.1989 bức tường Bá
Linh sụp đổ. Bắc Hàn và Cuba là hai xă hội có trật tự nhưng dân vẫn
tiếp tục đói rách trong nhiều thập niên và nếu có cơ hội là trốn đi.
Ở miền Nam Việt-Nam chế độ độc tài của hai ông Diệm-Nhu cũng chỉ tồn
tại được 9 năm. Chính phủ quân nhân của hai ông Thiệu-Kỳ cũng chỉ
kéo dài được 10 năm. V́ chiến tranh và bất ổn chính trị nên kinh tế
của miền Nam Việt-Nam suy sụp phải nhờ
vào ngoại viện.
Chúng ta tạm
thời bỏ Việt-Nam qua một bên để nghiên cứu một vài nước trong vùng
Đông Á hầu rút tỉa kinh nghiệm cho Việt-Nam. Hồng Kông và Tân Gia
Ba sẽ không được đề cập tới v́ là hai lănh thổ quá nhỏ bé so với
Việt-Nam. Phi Luật Tân và Mă Lai cũng sẽ không được bàn đến v́ Phi
Luật Tân không hơn Việt-Nam nhiều và Mă Lai có khó khăn về vấn đề
chủng tộc mà Việt-Nam không có.
Nam Hàn
Nam Hàn là một
nước đáng chú ư v́ là một trong những con rồng châu Á mạnh nhất và
cũng bị chia đôi như Việt-Nam. Thật sự t́nh h́nh chính trị của quốc
gia này từ lúc Tổng thống Lư Thừa Văn (Ryee Sung-man) bị đảo chánh
vào năm 1960 không lúc nào được ổn định cả trừ giai đoạn sau từ khi
Tổng thống Roh Tae-Woo (1988-1993) tới Tổng thống Kim Dae-jung
(1998-2003) lên cầm quyền theo thể thức bầu cử dân chủ. Trong khoảng
thời gian từ 1962-1979 dưới sự lănh đạo của Tướng Park Chung Hee sau
cuộc đảo chánh vào tháng 5, 1961 do chính ông chỉ huy, t́nh h́nh Nam
Hàn cũng không ổn định. Tổng thống Park Chung Hee bị ám sát hụt một
lần. Lần đó vợ ông chết thay ông. Đến năm 1979, chính Giám đốc Cơ
quan Trung ương T́nh báo Nam Hàn Kim Jae Kyu đă ám sát ông thành
công.
Dưới thời Tổng
thống Park Chung Hee, chế độ chính trị của Nam Hàn không không phải
là một chế độ độc tài toàn trị xă hội chủ nghỉa như ở Bắc Hàn. Chế
độ dưới thời của Tổng thống Park Chung Hee cũng không phải là một
chế độ dân chủ, nhưng là một chế độ pháp trị (governed by laws).
Ông áp dụng những biện pháp hết sức cứng rắn để thực hiện cải tổ
kinh tế như bỏ tù rất nhiều doanh gia, bêu xấu trước công chúng
những kỹ nghệ gia giầu v́ chính sách sản xuất hàng tiêu thụ thay thế
nhập cảng, quốc hữu hóa ngân hàng tư, phá giá tiền Nam Hàn để hạ giá
hàng xuất cảng, hạ thuế nhập cảng để bắt những kỹ nghệ nội địa phải
cải tiến để cạnh tranh, hỗ trợ các kỹ nghệ xuất cảng, đặc biệt đối
với những sản phẩm rẻ và cần nhiều sức lao động. Ông thả tự do cho
những doanh nhân và hứa không tịch thu tài sản của họ trong tương
lai nếu họ bằng ḷng làm ăn đàng hoàng. Ông cho phép những kỹ nghệ
gia mở công ty nếu họ chịu cống hiến một số cổ phần cho chính phủ.
Để giảm chi phí về lao động Tổng thống Park Chung Hee hạn chế hoạt
động của các nghiệp đoàn. Giá cả được chính phủ kiểm soát chặt chẽ.
Tổng thống Park
Chung Hee cho thành lập Ủy ban Kế hoạch Kinh tế và Cơ quan Khuếch
trương Xuất cảng nhưng chỉ để soạn thảo chính sách kinh tế và hướng
dẫn những công thương kỹ nghệ gia mà không chủ trương thiết lập các
xí nghiệp quốc doanh. Trực thuộc phủ Thủ tướng là Hội đồng Cố vấn
gồm các giáo sư đại học. Hội đồng này họp thường xuyên với tổng
Thống để giúp ư kiến. Từ bộ óc này, Tổng thống chọn người vào những
chức vụ then chốt của chính phủ. Trái lại, ông Park Chung Hee tận
t́nh giúp đỡ khu vực tư nhân phát triển. Ông chủ trương tài trợ tư
nhân, nhưng nếu sau vài lần không thấy tiến bộ, chính phủ sẽ ngưng
bao cấp. Ngoài ra chính phủ của Tổng thống Park Chung Hee đầu tư rất
nhiều vào chương tŕnh giáo dục ở hai bậc tiểu và trung học. Sinh
viên Nam Hàn được gửi ra nước ngoài du học rất nhiều. Tóm lại, sự
phát triển kinh tế chưa từng thấy của Nam Hàn bắt đầu từ năm 1961
cho tới cuối thập niên 80 là nhờ vào ba thành phần: chính phủ, tư
nhân, và lao động. Trong đó chính phủ giữ một vai tṛ hướng dẫn tích
cực. Sự liên hệ giữa chính phủ và tư doanh theo hàng dọc chứ không
phải hàng ngang. Những công ty tư nhân nào theo chính sách của chính
phủ thường được giúp đỡ. Những công ty không theo trước sau cũng bị
thất bại.
[8]
Từ thập niên 90
đến nay, điều kiện xă hội, chính trị của Nam Hàn đă thay đổi rất
nhiều. Mô thức Park Chung Hee không c̣n hợp thời nữa. Nền kinh tế
của Nam Hàn quá lớn và phức tạp để chính phủ có thể chỉ huy một
chiều từ trên xuống dưới. Khu vực tư ngày nay có rất nhiều nhân tài
không thua ǵ chính phủ cả. Do đó điều kiện này không cho phép
chính phủ đóng một vai tṛ “cha chú” như trước nữa. Phong trào đ̣i
cải tiến điều kiện làm việc của giới lao động kể từ năm 1988 tới nay
đă buộc giới chủ nhân phải thay đổi chế độ lương bổng và các phụ cấp
cùng quyền lợi của công nhân. Chính sách “phát triển trước, phân
phối lợi tức sau” không c̣n được chấp nhận nữa.
[9]
Nam Hàn thỉnh
thoảng lại khám phá ra một vài đường hầm đào sâu dưới đất hoặc bắt
được vài con tầu nhỏ của Bắc Hàn chuyển người và vơ khí vào Nam Hàn.
Nhưng tuyệt đối không có đường ṃn HCM. Một điều may mắn cho Nam Hàn
là suốt từ khi có hưu chiến vào năm 1953 cho đến nay không bị chiến
tranh tàn phá. Hai miền Nam Bắc tương đối được tự do phát triển
kinh tế theo hai ư thức hệ khác biệt. Miền Nam theo chế độ tư bản
như đă tŕnh bầy ở trên. Miền Bắc theo chế độ Cộng Sản. Chủ Tịch Kim
Il-Song và cũng là lănh tụ sáng lập Cộng sản Bắc Hàn chết vào năm
1994, truyền ngôi lại cho con là Kim Chong-Il. Trong nửa thế
kỷ, Bắc Hàn có một đảng duy nhất, t́nh h́nh chính trị ổn định tuyệt
đối, có một triệu quân, hỏa tiễn tầm xa, và khả năng sản xuất vơ khí
hạt nhân và hóa học, nhưng luôn luôn không sản xuất đủ lương thực
cho dân chúng.
Đài Loan
Đài Loan là một
con rồng thứ hai của châu Á. Từ khi bị đánh bật ra khỏi lục địa vào
năm 1949, chính phủ Tưởng Giới Thạch và Trung Hoa Quốc dân đảng
(Koumintang) của ông cùng với hai triệu người phải chạy qua đảo Đài
Loan và cai tri phần đất này cho đến năm 2000. Lần đầu tiên, quyền
cai trị tại Đài Loan được chuyển từ Quốc dân đảng Trung Hoa qua Đảng
Dân chủ Cấp tiến theo thể thức bầu cử dân chủ được thực hiện ba năm
trước đây. Trong hơn một nửa thế kỷ, Đài Loan tương đối có ổn
định về chính trị. Các đảng đối lập được tự do hoạt động. Báo chí
được tư do xuất bản, tôn giáo được tư do hành đạo và dân chúng được
tự do đi lại kể cả việc về thăm Hoa lục.
Rút kinh nghiệm
ở lục địa và luôn luôn chịu sự đe dọa tấn công quân sự của chính
quyền Cộng sản Bắc kinh, chính phủ Quốc dân đảng mau chóng thực hiện
những công cuộc cải tổ kinh tế và xă hội trên đảo Đài Loan: (1) cải
cách ruộng đất; (2) khuyến khích tư nhân thiết lập những cơ sở sản
xuất cỡ nhỏ và trung b́nh; (3) thiết lập những khu kỹ nghệ để giúp
giảm phí tổn ban đầu cho những công ty mới. Nhờ ba chương tŕnh cải
tổ kinh tế này, sự phân chia lợi tức được đồng đều, chính phủ Quốc
Dân Đảng được sự ủng hộ của đại đa số quần chúng. T́nh h́nh
chính trị tiếp tục được ổn định giúp cho nền kinh tế của Đài Loan
liên tục phát triển trong vài thập niên vừa qua và vượt xa Hoa lục.
Ngày nay tổng sản lượng nội địa của Đài Loan cho mỗi đầu người tính
theo măi lực quân b́nh là 18,000 Mỹ kim. Đài Loan không
những đầu tư ở cả Hoa lục và Việt-Nam mà c̣n nhập cảng nhân công từ
Việt-Nam.
Thái Lan
Khác với Nam
Hàn và Đài Loan vừa thảo luận ở trên cũng như Tân Gia Ba và Hồng
Kông, Thái Lan chưa phải là một con rồng Á châu. Đặc biệt hơn cả là
quốc gia này có t́nh trạng chính trị bất ổn nhất so với các nước
Đông Á khác. Kể từ khi từ một vương quốc thuần tuư đổi qua nền quân
chủ hiến định (constitutional monarchy) vào năm 1932, Thái Lan đă
chứng kiến 26 cuộc đảo chánh, trong đó có 10 cuộc đảo chánh thành
công và 16 cuộc đảo chánh thất bại. Vua Thái thường giữ vai tṛ
trọng tài và khi thiên về phe nào th́ phe đó thắng. Những lănh tụ
của phe thua thường được cho sống lưu vong ở nước ngoài. Hầu hết
các cuộc đảo chánh đều xẩy ra giữa các phe phái quân nhân, nhưng
không đổ máu, trừ cuộc đảo chánh vào năm 1976 vời khoảng dưới 1,000
người chết. Ngoài ra, Thái Lan c̣n liên tục bị các nhóm Cộng Sản
quấy nhiễu vào những thập niên 60 và 70. Riêng chính phủ quân nhân
của Tướng Prem Tinsulanonda đă dẹp một cuộc đảo chánh vào năm 1980
và hai toan tính đảo chánh vào năm 1981 và 1985 trước khi nhường
chính quyền cho phe dân sự vào năm 1988 qua môt cuộc tổng tuyển cử
dân chủ. Lần cuối cùng phe quân nhân nhúng tay vào chính quyền là
năm 1992 nhưng lập tức rút lui v́ áp lực trong và ngoài nước.
Sinh
viên, công nhân và nông dân Thái Lan ngày nay đ̣i hỏi đất nước cải
tổ chính trị để chuyển sang chế độ dân chủ và đ̣i hỏi được tham dự
vào tiến tŕnh dân chủ hoá đó.
Ngay cả trong giai đoạn chính phủ quân nhân, Thái Lan cũng có nhiều
đảng chính trị hoạt động như Đảng Dân chủ, Đảng Dân chủ Cấp tiến,
Đảng Phát triển Quốc gia, Đảng Hành động Xă hội, Đảng Quốc gia Thái,
v.v. Nhờ vậy, trong hơn một thập niên vừa qua, Thái Lan tương đối
có ổn dịnh về chính trị. cũng v́ thế kinh tế Thái Lan đă phát
triển. Lợi tức ṛng trung b́nh mỗi đầu người tăng gấp đôi kể từ năm
1960. Số người nghèo giảm một nửa. GDP mỗi đầu người tính theo măi
lực quân b́nh là $7,000 (2002). Thái Lan được xếp vào hạng 60 trên
155 nước có chỉ số tự do kinh tế tốt (mostly free).
[10]
Cũng như Nam Hàn và Đài Loan, Thái Lan được Freedom House xếp vào
các quốc gia tự do.
[11]
Hiện nay Thái Lan c̣n được coi là một trong các quốc gia có đời sống
tự do và thoải măi nhất Á châu.
Nam Dương
Nam Dương. là
nước kế tiếp chúng ta muốn t́m hiểu. Quốc gia này dành được độc lập
từ Ḥa Lan vào năm 1950 dưới sự lănh đạo của tướng Sukarno. Ông trở
thành Tổng thống đầu tiên của một nước Nam Dương độc lập từ
1950-1965. Trong giai đoạn này, t́nh h́nh chính trị bất ổn. Ảnh
hưởng của Cộng sản
rất mạnh. Đảng Cộng sản Nam Dương (Partai Komunis Indonesia viết tắt
là PKI) được chính thức hoạt động và được tham dự vào sinh hoạt
chính trị. Đảng PKI là đảng Cộng sản lớn nhất ngoài lănh thổ Nga sô
và Trung quốc. Trong giai đoạn này kinh tế Nam Dương xuống dốc, với
nạn lạm phát và mức thất nghiệp cao. Số người nghèo đói gia tăng và
hạ tầng cơ sở xuống cấp. Khi Tổng thống Sukarno rút Nam Dương ra
khỏi Liên Hiệp quốc và liên minh với Trung Quốc vào năm 1965, đồng
thời 6 tướng lănh của quân lực Nam Dương bị bắt cóc và thủ
tiêu,Tướng Suharto đảo chính và loại Sukarno ra khỏi chính quyền.
Quân đội Nam Dương nắm lấy cơ hội này và tiêu diệt PKI. Hàng trăm
ngàn đảng viên PKI và cảm t́nh viên bị giết.
Tướng Suharto
lên làm Tổng thống cùng với một số tướng lănh lănh đạo quốc gia. Ông
đặt tên cho chế độ cuả ông là “Trật tự mới” so sánh với chế độ “Dân
chủ Hướng dẫn” của Tổng thống Sukarno. Dưới thời Suharto, chính trị
bị kiểm soát chặt chẽ nhưng kinh tế phát triển khả quan. Trong ṿng
5 năm, mức lạm phát giảm từ 1,000% xuống c̣n 10%. Lợi tức gia tăng
nhờ sự khai thác tài nguyên thiên nhiên gồm các kim loại, gỗ và dầu
hỏa. Đợt đầu tư thứ hai vào Nam Dương đến từ Nhật Bản, Đài Loan và
Singapore giúp phát triển khu vực kỹ nghệ và ngành may dệt. Kinh tế
tiếp tục phát triển cho đến giữa thập niên 90. Sau 30 năm cầm
quyền, chính thể độc tài Suharto gây ra một số vấn đề nghiêm trọng
vào giai đoạn sau: quyền lợi kinh tế rơi vào trong tay một thiểu số,
trong đó không ít có liên hệ với gia đ́nh Tổng thống Suharto. Nạn
tham nhũng lan rộng. Cảnh sát và quân đội bị kết án vi phạm nhân
quyền ngày càng nhiều. Vào giữa năm 1997, Nam Dương bị ảnh hưởng
nặng nhất của cuộc khủng hoảng tài chánh Á châu so với các nước Đông
Á. GDP chỉ tăng 4.7% vào năm 1997 so với 7.8% vào năm 1996. GDP
không tăng mà c̣n giảm 13.1% trong năm 1998.
[12]
Nhiều
cuộc biểu t́nh do sinh viên lănh đạo đ̣i Tổng thống Suharto từ
chức. Vào tháng 5, 1998 ô. Suharto quyết định rút lui mặc dầu trước
đó 3 tháng ông đă được Hội đồng Cố vấn Nhân dân (People’s
Consultative Assembly) chọn ông làm tổng thống nhiệm kỳ thứ 7
(1998-2003).
Sau khi ô.
Suharto từ bỏ chính trường, một số cải tổ chính trị được thực hiện
bởi Tổng thống lâm thời B.J. Habibie, nguyên là Phó Tổng thống của
Suharto. Các tù nhân chính trị được trả tự do. Quyền tự do ngôn luận
và thành lập hội được tôn trọng. Ông Abdurrahman Wahid được chọn làm
tổng thống thứ tư của Nam Dương trong cuộc bầu cử vào 1999. Ông từ
chức vào đầu năm 2001 v́ bị sinh viên biểu t́nh tố cáo ăn hối lộ.
Phó Tổng thống Nam Dương là bà Megawati Sukarnoputri xử lư rồi trở
thành tổng thống thứ năm của Nam Dương vào giữa năm 2001. Bà
Megawati Sukarnoputri tiếp tục thực hiện cải tổ chính trị. Hiến pháp
đă được tu chính để cho phép dân được bầu tổng thống trực tiếp kể từ
nhiệm kỳ tới vào năm 2004.
Mặc dầu kinh tế
tiếp tục được cải thiện một phần sau cuôc khủng hoảng 1997, nạn thất
nghiệp và mức nghèo đói vẫn c̣n cao, nạn tham nhũng vẫn c̣n mặc dù
bà Megawati Sukarnoputri không bị liên lụy. Đầu tư nước ngoài trong
lúc này xuống thấp. GDP mỗi đầu người tính theo măi lực quân b́nh là
$3,100 (2002).
Kết luận
Sau khi phân
tách các nước Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan và Nam Dương, người ta
thấy rằng, những chế độ độc tài đều có một sự ổn định giả tạo
rồi cuối cùng kết thúc bằng sự hỗn loạn. Đài Loan là một
ngoại lệ. Quyền hành đă chuyển từ Quốc dân đảng Trung Hoa qua Đảng
Dân chủ Cấp tiến một cách êm đẹp qua một tiến tŕnh dân chủ thật sự.
Chế độ độc tài là nguồn gốc của tham nhũng, bất công, vi phạm
nhân quyền và cản trở thông tin cần thiết cho sự phát triển kinh tế,
như người ta thấy ở Nam Dương, Thái Lan, Phi luật Tân, Việt-Nam và
Miến Điện. Nhờ sự liêm khiết của Tổng thống Park Chung Hee
mà Nam Hàn thoát được nạn tham nhũng. Nhờ kinh nghiệm thất bại ở Hoa
lục mà những lănh tụ Trung Hoa Quốc dân đảng khi chạy qua đảo Đài
Loan đă tránh được nạn tham nhũng và quyền người dân trên hải đảo
được tôn trọng triệt để.
Những mô h́nh
Park Chung Hee, Lư Quang Diệu, hay Suharto dù có cho những kết quả
tích cực vài ba thập niên trước cũng không c̣n hợp với thời đại toàn
cầu hóa hiện nay. Những luật lệ mậu dịch quốc tế ràng buộc các quốc
gia lại với nhau và giới hạn quyền hành của các chính phủ địa
phương. Hơn nữa phong trào đ̣i dân chủ trên toàn thế giới không thể
đảo ngược lại. Ông Lư Quang Diệu cựu Thủ tướng Tân Gia Ba đưa ra một
lư thuyết gọi là “Giá trị Á châu” dựa trên một vài nguyên tắc của
Khổng giáo để khẳng định rằng giá trị dân chủ của Tây phương không
hợp với giá trị của Đông phương, nhân quyền và dân quyền không quan
trọng đối với Đông phương như đối với Tây phương. Trung, hiếu, nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín là những giá trị cao quư của Đông phương. Trật
tự trên dưới phân biệt rơ ràng người cai trị và kẻ bị trị. Quyền cai
trị không tùy thuộc vào sự ưng thuận của kẻ bị trị mà chỉ dựa vào
cách hành sử và suy xét khôn ngoan của người cai trị. Dựa vào lư
thuyết “Giá trị Á châu” ô. Lư Quang Diệu cho rằng trong một chế độ
độc tài kinh tế dễ dàng phát triển hơn như trường hợp Tân Gia Ba do
ông làm Thủ tướng.
GS Amartya Sen,
người từng đoạt giải Nobel về kinh tế vào năm 1998, nhận định rằng,
lư thuyết “Giá trị Á châu” chắc chắn đúng cho một số trường hợp cá
biệt như Nam Hàn, Tân Gia Ba và Trung Quốc vào thời kỳ hậu cải tổ
kinh tế. Các quốc gia này có mức phát triển kinh tế cao và nhanh
hơn những nước ít độc tài như Ấn Độ, Costa Rica hoặc Jamaica. Tuy
nhiên GS Sen khẳng định rằng, lư thuyết Lư Quang Diệu chỉ đúng cho
một số trường hợp lựa chọn và dữ kiện giới hạn chứ không có giá trị
phổ quát. Cũng như chúng ta cũng không thể kết luận ngược lại đối
với trường hợp Bostswana, một nước dân chủ ở Phi châu có mức phát
triển kinh tế cao nhất thế giới trong giai đoạn 1960-85. Có rất ít
chứng cớ để chứng minh rằng cai trị độc đoán và đàn áp quyền chính
trị và dân sự giúp cho sự phát triển kinh tế. Trái lại kinh nghiệm
ở Ấn Độ cho thấy một môi trường thân thiện giúp cho kinh tế phát
triển dễ dàng hơn là một môi trường chính trị khó khăn.
[13]
Một câu
hỏi căn bản cần phải nêu ra là mục tiêu tối hậu của vấn đề phát
triển kinh tế là ǵ ?
Con người hay chế độ, hay quyền bính của giai cấp thống trị ? TS
Joseph Stiglitz, một cựu kinh tế gia của Ngân hàng Thế giới, người
được giải thưởng Nobel về kinh tế vào năm 2001, trong một cuộc phỏng
vấn dành cho tạp chí Vietnam Economic Times tại Hà-Nội vào tháng 3,
2002 đă nhấn mạnh rằng: “Phát triển không phải chỉ là tăng tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) mà c̣n là tạo dựng một xă hội tốt đẹp hơn,
một xă hội dân chủ thật sự và công bằng.”
[14]
GS Amartya Sen cũng nói: “Dân chủ không phải là một xa xỉ phẩm để
phải đợi đến lúc giầu sang mới được hưởng thụ ” (Democracy is
not a luxury that can wait the arrival of general prosperity).
Ông c̣n nói thêm rằng, “dân chủ là một yếu tố chứ không là kết quả
của sự phát triển “
(Democracy
is not the result of economic development, but its factor.)
[15]
Phép
lạ kinh tế ở Đông Á không phải là nhờ chế độ độc đảng mà là nhờ
chánh sách kinh tế khôn ngoan và tài lănh đạo của các người cầm
quyền tại các quốc gia này.
Những yếu tố
chính của sự thành công là sự gia tăng tiết kiệm và đầu tư, phát
triển nhân lực, khuếch trương xuất cảng, tiếp thu kỹ thuật tân tiến
của các cường quốc, phát triển khu vực tư doanh tối đa, hỗ trợ những
kỹ nghệ cần thiết, đúng nơi và đúng lúc của chính phủ. Tất cả
những quốc gia Á châu thành công về mặt kinh tế đều thành công trong
việc phân phối đồng đều kết quả của sự phát triển kinh tế cho mọi
tầng lớp trong xă hội. Lợi tức gia tăng được phân chia đều
cho mọi thành phần trong mọi khu vực kinh tế. Số liệu thống kê cho
thấy rằng, tổng sản lượng nội địa của các quốc gia này gia tăng,
đồng thời sự chênh lệch về lợi tức đầu người giữa giới giầu và giới
nghèo giảm một cách đáng kể. Đây là một điểm then chốt. Đối với
riêng hai nước Nam Hàn và Đài Loan, v́ sự phân phối lợi tức đă đồng
đều từ trước cho nên phép lạ Đông Á chỉ ảnh hưởng rất ít đến sự phân
phối lợi tức.
[16] Không một nơi nào khác trên thế
giới đă thành công đáng kể về cả hai phương diện: phát triển kinh tế
và cải thiện sự cách biệt giầu nghèo.
Việt-Nam
không cần phải có một chế độ độc tài độc đảng để trở thành một con
rồng ở Á châu. ♣
Chú thích:
[1]
Amartya Sen, “Democracy as Universal Value,” Random House,New
York: 1999.
[2]
Nguyễn Quôc Khải, “Liệu Cải Tổ Kinh Tế Và Mở Của Buôn Bán Với
Thế Giới Có Mang Lại Tự Do Dân Chủ Cho Việt-Nam Hay Không?” Thế
Kỷ 21 số 176, Westminster: tháng 12, 2003.
[3]
Lawrence F. Kaplan, “Why Trade Won’t Bring Democracy To China”,
the New Republic magazine, July 9, 2001.
[4]
Vơ Nhơn Trí, “Việt-Nam Cần Đổi Mới Thật Sự,” Đông Á, Vancouver,
Canada: 2003. 223.
[5]
Mai Tran and Mike Anton, “His Return To Vietnam Crosses A Line,
“ Los Angeles Times, Jan 9, 2004.
[6]
Peter Goodspeed, “Ky Done Fighting Old Wars,” National Post,
Canada: Jan 14, 2004.
[7]
Phạm Đỗ Chí và Trần Nam B́nh chủ biên, “Đánh Thức Con Rồng Ngủ
Quên,” Thời Báo Kinh Tế Saigon: 2002.
[8]
Jose Edgardo Campos and Hilton L. Root, “The key to the Asian
miracle – Making shared growth credible,” the Brookings
Institution, Washington, DC, 1996.
[9]
Tae-Kyu Park, “Confucian Values And Contemporary Economic
Development In Korea,” in Culture And Economy, The Shaping Of
Capitalism In Eastern Asia, eds. Timothy Brook and Hy V. Luong,
the University of Michigan Press, Ann Arbor: 2002.
[10]
Heritage Foundation and Wall Street Journal, “2004 Index of
Economic Freedom,”, Washington, DC; January 2004.
[11]
Freedom House, “Freedom in the World 2003,” Washington, DC: July
2003.
[12]
Joshua E. Green, “The Output Decliness In Asian Crisis
Countries: Investment Aspects,” IMF working paper WP/02/05,
Washington, DC: February 2002.
[13]
Amartya Sen, “Human Rights and Asian Values: What Lee Kuan Yew
and Le Peng Don’t Understand about Asia,” The New Republic,
V217, n2-3, July 14, 1997.
[14]
Trích dẫn từ Vơ Nhơn Trí, “Việt-Nam Cần Đổi Mới Thật Sự,” Đông Á,
Vancouver, Canada: 2003. 227.
[15]
Amartya Sen, “Democracy as Universal Value,” Random House,New
York: 1999.
[16]
World Bank, “The East Asian Miracle – Economic Growth and Public
Policy,”, Oxford University Press, New York: 1993.
Trích
trong:
Mục Thời
sự , Báo điện tử
của Tạp
chí Dân chủ & Phát triển:
www.dcvapt.org
|