|
|
MỘT NGUYÊN THỦ KHÔNG GIỐNG AI
LÂM LỄ TRINH
Tám tháng đấu tố quyết liệt giữa hai phe hai
phe Dân chủ và Cộng ḥa đă “đổi mới” Hoa kỳ. Ngày 3 tháng 11, sau một đêm
hồi hộp đếm phiếu, Tổng thống đắc cử George W.Bush tiến vào lịch sử với
số thăm quần chúng gần 4 triệu và số thăm cử tri đoàn 287, bức xa đối thủ.
Cộng ḥa c̣n thắng thêm bốn ghế tại lưỡng viện Quốc hội và một ghế Thống
đốc tiểu bang. Như vậy, Cộng ḥa nắm lợi thế trong cả ba ngành Lập pháp,
Tư Pháp và Hành pháp: một sự kiện chưa từng thấy từ thời Abraham Lincoln
năm 1860. Đảng viên Dân chủ và các ủng hộ viên liên danh Kerry – Edwards
than Trời như bọng, tự hỏi tại sao họ có thể thua trong khi Đảng dư tiền,
có kế hoạch và có ứng cử viên được dân chúng lẫn thế giới tán tụng. Trong
ba cuộc tranh luận công khai với Kerry, dư luận xem Bush như thua.
Kerry không bỏ qua cơ hội khai thác triệt để nhiều chuyệân bất lợi dồn dập
xảy ra vào giờ chót cho chính quyền đương nhiệm: t́nh h́nh Irak đảo điên,
mất 380 tấn chất nổ nguy hiểm, một số đồng minh bỏ cuộc, xăng nhớt tăng
giá, thất nghiệp trầm trọng, thuốc ngừa cúm thiếu hụt, biểu t́nh chống đối
khắp nơi, ..vv ...
Phần thắng- và thắng lớn - tuy nhiên, cuối
cùng về tay George W Bush, một chính trị gia thủ đoạn và cương quyết dưới
một vỏ ngoài mộc mạc. Chiến thuật tranh cử của ông, do một bộ tham mưu
thượng thặng sắp xếp, đă lật ngược thế cờ và động viên được nước Mỹ trầm
lặng., nước Mỹ của đại chúng.
A .Không sợ tạo h́nh ảnh đối chọi với địch thủ
“Quan điểm của đối thủ của tôi giống như
thời tiết tại Greenbay,
Wisconsin. Nếu các bạn không
thích th́ hăy đợi nó thay đổi!”. Quần chúng
Wisconsin liền la ó đă đảo ứng cử
viên Dân chủ. Bush ngưng vài giây, với môt nụ cười ranh khôn. “Dù các bạn
yêu hay ghét tôi, ít nữa các bạn cũng biết tôi ở đâu, phải không?”
Bush lập lại câu này một trăm lần tại một trăm chỗ. Kerry chỉ gây sự
ṭ ṃ trong khi cử tri sùng bái Bush v́ Bush trung thực, cởi mở, tự nhiên.
Xốc tay áo, mím môi, gương mặt gân guốc, tóc rối hoa râm, ông không nói
quá mười chữ trong một câu, không cao kỳ, đôi khi vấp váp, ngọng nghệu, cà
lăm, tạo những vần khôi hài, làm thính giả bật cười thoải mái. Không tệ
hơn Eisenhower hay Bush cha là hai Tổng thống tiền nhiệm có tiếng là diễn
giả hạng tồi !
“Tôi đến để xin thăm của các bạn. Tôi không
đến để “tự hiến ḿnh” theo ngôn từ khách sáo dân chủ. Tôi đến v́ tôi như
thế, bất kể ai có thể nói ǵ. Mọi vấn đề do ứng cử
viên Bush tŕnh bày, đều có vẻ giản dị. Ngay cả Irak. Bush không biết
danh từ « thất bại ». Đối với
ông, thất bại là một « việc làm khó. » Cũng không có « sai lầm », chỉ có
những « công tác cần thực hiện. » Khác hẳn với Kerry, có vóc dáng quư phái
của tài tử Henry Fonda, ăn nói nghiêm chỉnh, khệ nệ, hể mở miệng là « Tôi
có kế hoạch, I have a plan! »(nhưng không ai hiểu kế hoạch ra sao !). Đôi
khi, Bush đề cập đến những chuyện tầm thường với một giọng trịnh trọng,
thần bí: « Chúng ta phải làm hơn để nước Mỹ tiến mạnh. Phải làm hơn
để tạo jobs , chấn chỉnh trường học, chống lại khủng bố, bảo vệ đất nước.
Cần làm hơn, v́ tự do và ḥa b́nh. Chúng ta đă làm được nhiều rồi. Tôi sẳn
sàng tiếp tục. Tôi sẳn sàng hoàn tất. » Biển người vung cao biểu ngữ kẻ
chữ W to tướng (W=Walker, tên giữa của Bush) và gào thét hoan hô người
cao-bồi Texas có bộ vó Steve McQueen. Diễn giả nói như súng nổ liên hồi,
bất chấp văn phạm, liếc đọc tài liệu, mạt sát đối phương, diễn đạt linh động
căm giác từng giây trong ánh mắt, trong hơi thở, chưa dứt câu đă nhào tới
bắt tay cử tri, bồng hun trẻ nít, đôi khi mất thăng bằng, các vệ sĩ phải
ôm lưng để ông khỏi té. Bush tin ḿnh nói sự thực. Tin tưởng này nơi ông
là một bản năng và gây truyền nhiểm đối với người nghe. Đặc tính (character)
của ứng cử viên là yếu tố quyết định đă giúp dân chúng Mỹ bầu nhà lănh đạo
của họ năm nay.
George W Bush ra đời ngày
6.6.1946 trong môt gia đ́nh thượng lưu Texas. Khi c̣n trẻ, ông sống lè phè,
tốt nghiệp tại Andover, Yale, Harvard với điểm thấp và « v́ mặc cảm thua
sút - phải tranh với em là Jeb (hiện Thống đốc Florida) để dành sự chú ư
của song thân. Ông thất bại một thời gian dài, từ 30 đến 40 tuổi : kinh
doanh lỗ lă, rượu chè bê tha, hút xách x́ ke. Năm 1986, mọi người ngạc
nhiên: Bush “hoàn sinh chuộc tội”, bỏ dứt rượu và thuốc trong một đêm, trở
thành ngoan đạo, làm ăn khấm khá và tạo được một tài sản 22 triệu đô.
Rớt đài năm 1978 khi ứng cử vào ghế dân biểu Liên bang, ông đắc cử Thống đốc
Texas năm 1994 và giữ chức vụ này liên tiếp hai nhiệm kỳ. Năm 2000, Bush
đánh bại khó khăn Gore và trở thành Tổng thống Hoa kỳ thứ 43. Đắc cử vẽ
vang kỳ hai, George W Bush đẩy lui được nhiều ám ảnh: không c̣n là « con
chiên ghẻ » trong quư tộc Bush, « rửa hận » cho cha (biệt danh Bush 41)
từng thảm bại năm 1992 trước Clinton, một thống đốc vô danh Arkansas khi
ứng cử Tổng thống lần thứ hai, loại bỏ Saddam Hussein là người đă mưu sát
cha ḿnh và, đặc biệt hơn cả, thực hiện những ǵ mà thân phụ không làm được.
B- Sử dụng lá bài đức tin tôn
giáo
Kư giả Bob Woodward có lần
hỏi Bush 43 có thường vấn kế Bush 41 hay không? G W Bush trả lời: « Không.
Có một người cha cao hơn, tôi thường tâm t́nh. » Ông tin « Thượng đế » đă
giúp ông trở thành Tổng thống. « Chúa gây cảm hứng cho đời tôi. », ông nói.
Danh từ ông hay dùng là « I believe, Tôi tin ». Theo Bush, cách đây bốn
năm, trong nhiệm kỳ đầu, chính Chúa đă chỉ định ông qua phán quyết của Tối
Cao Pháp viện. Đối với 40 triệu tín đồ Thiên chúa giáo, Bush là Tổng thống
của Ơn Trên, bảo đảm cho đạo lư chính trị. Họ không quên x́-căn-đan
Clinton - Monica Lewinsky tại Ṭa Bạch Ốc. Ngày 2 tháng 11, trong tổng số
120 triệu cử tri đi bầu - 15 triệu nhiều hơn năm 2000 - 22% đă chọn những
« giá trị đạo đức, moral values” làm lư do căn bản để bỏ phiếu, trên vấn
đề kinh tế (20%), nạn khủng bố (19%) và chiến tranh Irak (15%). Trong hướng
nào đó, chiến thắng của Bush là chiến thắng Hoa hỳ trong chuyện phim « La
Passion du Christ » đánh bại ï nước Mỹ của Farenheit 9/11.
Bush thắng nhờ một ê-kíp cố
vấn giỏi và hết ḷng, gồm có chiến thuật gia Karl Rove , Dick Cheney và
một số phụ nữ tận t́nh như Karen Hughes, Condoleeza Rice, thân mẫu
Barbara Bush và, đặc biệt, hiền thê Laura Bush, một vơ khí bí mật thu phục
được nhiều cảm t́nh. Chính Karen Hughes có sáng kiến tạo khẩu hiệu ăn
khách « W for Women, W(alker) đấu tranh cho phụ nữ » để động viên các
bà mẹ xung quanh thuyết đề an ninh cho con cái. Lần đầu tiên, đảng Dân
chủ mất thăm khá nhiều trong nữ giới.
C- Bush, « Tổng thống Cách mạng »,
sẽ khai thác ra sao sự « ủy thác » của dân chúng Mỹ ?
Trong cuộc họp báo đầu tiên sau ngày 2.11. TT
Bush đă khiêm nhường dùng danh từ “capital, vốn liếng” thay v́ “mandate,
ủy thác” khi đề cập đến số phiếu cử tri đoàn (287) và nhân dân (58 triệu,
tức trên 51%) dành cho liên danh Cộng ḥa. Bush kêu gọi đoàn kết quốc gia
và hứa sẽ cố gắng tận dụng cái vốn ấy để phục vụ cả hai cánh, ủng hộ cũng
như chống đối ông.
Trong nhiệm kỳ đầu, biến cố 9/11 đă
thay đổi hoàn toàn và biến Bush thành một Tổng thống chiến tranh. Kinh
nghiệm trước đây cho thấy từ Reagan cho đến
Clinton, nhiệm kỳ hai thường
được xoay qua chấn chỉnh kinh tế và xây dựng ḥa b́nh. TT Bush đă đưa ra
nhiều đề án khá hấp dẫn về nội trị: thuế vụ, an sinh xă hội, bảo hiểm
sức khỏe , giáo dục và cân bằng ngân sách. Vấn đề cần giải quyết ưu tiên
là rút quân khỏi Irak sau khi dân chủ hóa và tái thiết xứ này với sự hổ trợ
của đồng minh. Nhân cách lănh tụ của George W Bush sẽ bộc lộ rơ hơn trong
bốn năm c̣n lại v́ ông có thêm kinh nghiệm và không c̣n bị g̣ bó chặt chẽ
như trước bởi tập đoàn cố vấn diều hâu.
Trước ngày bầu cử 2.11, đă có sự tranh
luận sôi nổi quanh câu hỏi: George W Bush có phải là một Tổng thống ”cách
mạng” hay không? Một số thức giả tră lời “không” v́ cho rằng đường lối
chính trị đơn cực , unilateralism, sự cổ vơ “trong sáng đạo lư, moral
clarity, và chủ trương “chiến tranh pḥng ngự, preemptive war,” của Bush
thật ra, đă từng được các Tổng thống Thomas Jefferson, Woodrow Wilson,
Franklin Roosevelt, J F Kennedy, Ronald Reagan...đề xướng , Bush chỉ khác
họ trong phong cách áp dụng, style.
Sau ngày 3.11, với sự ủy thác, mandate,
của cử tri Mỹ dồn phiếu cho Liên danh Cộng ḥa, có những luồn dư luận mới
cho rằng Bush đă chứng minh ông không phải là một “Tổng thống t́nh cờ, An
Accidental President” như đảng Dân chủ và Thế giới thường biếm nhẽ, xuyên
tạc. Trái lại, theo dư luận ấy, trong những năm sắp đến, Bush sẽ biểu
dương - bằng thực hiện - bản lănh của một lănh tụ có tầm vóc và viễn kiến
cách mạng. Là sứ giả nhiệt t́nh của Dân chủ, Bush muốn sáng chế lại thế
giới. Cổ vơ cho Đạo đức, Bush mơ biến hóa Hoa kỳ. Bush, “người chiến sĩ
của Chúa”, tuyên bố bảo vệ cái tốt chống lại cái xấu.
Mặc dù bị chống đối mănh liệt trong và
ngoài xứ , Bush tái đắc cử v́ ông dám bẻ găy hiện trạng status quo. Bức
tường Bá linh vừa sụp đổ, TT Bush cha nói đến việc thể hiện một “trật tự
thế giới mới”. Theo chính sách thực tiển real politik, Bush 41 không loại
trừ Saddam Hussein bị đại bại tại vùng Vịnh. Bush 43 đă đảo lộn đường lối
của thân phụ sau biến cố 9/11 bằng cách tấn công Afghanistan và Irak nhân
danh quyền tự vệ chính đáng.
Kỳ vọng mà những người hâm mộ đặt nơi Bush
có quá cao hay không? Đến nay, TT Bush hành động theo bản năng. Nhưng cánh
tân bảo thủ Mỹ đă cung cấp cho ông lư thuyết. Các nhà trí thức này “ quá
khích không thua nhóm trotkiste “tin tưởng họ đă thắng Chiến tranh lạnh
nhờ thuyết phục được Ronald Reagan hạ bệ Liên xô bằng cuộc chạy đua tái
vơ trang. Họ cổ vơ dùng đường lối tự nguyện cũ, volontarisme, để chống
phong trào khủng bố. Theo họ, cần biến Irak thành một pḥng thí nghiệm Tự
do. Như trước đây Đức và Nhựt được kẻ thắng trận dựng lại, Irak hội đủ
các tiêu chuẩn trở thành một domino để từ đó, “vi khuẩn dân chủ” lây qua
toàn thể vùng Trung Đông. Trong tuần lễ chót của cuộc tranh cử vừa qua,
Bush long trọng tuyên bố: “Tự do không phải là món quà Hoa kỳ tặng cho
thế giới. Tự do là món quà của Thượng đế dành cho mọi người.”
Mặt khác, như cố nghị sĩ Sam Rayburn nhận
định chí lư, mỗi khi một đảng nắm đa số th́ những khó khăn bắt đầu xuất
hiện, Tại Thượng viện, Cộng ḥa thắng thêm bốn ghế kỳ này, tăng số nghị sĩ
“phe ta” lên 55 nhưng không hội đủ con số 60 (trên tổng số 100) hầu ngăn
chận các nghị sĩ Dân chủ dùng thủ tục filibuster để đánh bại các dự
luật tranh tụng. Ngoài ra, một số Nghị sĩ Cộng ḥa ôn ḥa (moderates) như
Alan Specter, Olivia Snow, John McCain...có thể bắt tay với cánh Dân chủ
chống Chính phủ. Trường hợp này thường xảy ra. Đó là tṛ chơi dân chủ.
*******
John Dickinson, một trong những người
cha tinh thần của nước Mỹ độc lập, có để lại một lời nhắn nhủ quư báu:
“Kinh nghiệm phải là yếu tố duy nhất hướng dẫn chúng ta. Lư trí lắm khi
đưa chúng ta lầm đường.” Trong tác phẩm “Culture War: The myth of a
polarized America, Cuộc chiến tranh Văn hóa: Huyền thoại của một nước Mỹ
phân cực”, Gs Morris P. Fiorina, thuộc đại học Stanford, sau khi
nghiên cứu hồ sơ dày cộm của các dữ kiện thăm ḍ dư luận (polling data),
nhận xét: “Nh́n chung, quan điểm của người dân Hoa kỳ có tính cách ôn
ḥa, đứng giữa, đầy cảm xúc, nước đôi, thay v́ quá khích, phân cực, độc
đoán, vô điều kiện.”
TT Bush thắng thêm lần nữa năm 2004 v́
biểu hiện một ḿnh tất cả những nghịch lư của một siêu cường đang do dự
giữa khuynh hướng bá quyền và chính sách biệt lập. Say men chiến thắng và
ch́m đắm trong tâm trạng chua cay đối với địch thủ Dân chủ - và luôn cả
cánh Cộng ḥa ôn ḥa - từng đả kích ông không tiếc lời trong mùa bầu cử,
TT Bush có thể bị cám dỗ củng cố lợi thế của đảng GOP bằng cách vẫn đứng
về phía hữu thay v́ xít vào giữa, để dung ḥa, ḥa giải. Nếu điều này xảy
ra th́ thật đáng tiếc cho triễn vọng đoàn kết quốc gia.
Hàn gắn các vết thương năm 2004 không dễ.
Trong t́nh h́nh quốc tế hỗn loạn hiện nay, rất mong Tổng thống George W
Bush khởi đầu một nhiệm kỳ mới bằng cách sáng suốt lắng nghe lời kêu cứu
khống thiết của toàn dân Hoa kỳ từ mọi chân trời: “Bring Us Together!
Hăy đem chúng tôi lại gần nhau!”♣
THƯ TỊCH:
1- “La véritable histoire de
la dynastie Bush” by Kitty Kelley, Editions Payard, Paris 2004
2- « Bush could bring us together »
by Jonathan Alter, Newsweek, November 15,04
3-
“George Bush, président révolutionnaire” by Charles Lambroschini, Le
Figaro 4.11.04, Paris
4-
“Culture War: The myth of a polarized
America” by Morris P
Fiorina ,Stanford Publ.,
New York, 2004
5- “Bush, maitre incontrollable du
monde” by Philippe Coste, dans l’Express,
8.11.04,Paris
6- “The Uniter v. The Divider”
by Joe Klein, in Time special edition 15.11.04
Mục
Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|