|
|
Pháp lệnh tôn giáo: Một cách
đàn áp tôn giáo bằng pháp luật
Lm Chân Tín, Lm
Nguyễn Hữu Giải, Lm Phan Văn Lợi
Như
mọi người đă biết, ngày 18-6 vừa qua, tại Hà Nội, Uỷ ban Thường vụ của
Quốc hội Việt Nam đă thông qua một "Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo" gồm 6
chương, 41 điều. Pháp lệnh này được ấn định có hiệu lực từ ngày
15-11-2004.
Là
tín đồ tôn giáo, chúng tôi có quyền và cũng có bổn phận phải lên tiếng khi
nhận thấy pháp lệnh này rơ ràng xâm phạm đến những quyền lợi chính đáng
của các tôn giáo và của những người dân có tôn giáo. Chúng tôi rất mong
Nhà Nước rút lại pháp lệnh này v́ lư do trên.
Đàn áp tôn giáo bằng pháp luật
Đọc
qua pháp lệnh này, ta có thể nhận thấy đây là một công cụ để Nhà Nước đàn
áp nhân dân về mặt tôn giáo. V́ tuy không có chỗ nào chính thức phủ nhận
quyền tự do tôn giáo, nhưng pháp lệnh này đ̣i buộc tất cả mọi hoạt động
tôn giáo phải đặt dưới quyền giám sát của Nhà Nước và hoàn toàn lệ thuộc
vào Nhà Nước. Hầu hết các điều khoản trong pháp lệnh đều nhằm hạn chế tối
đa hoặc vô hiệu hóa quyền tự do tôn giáo của người dân, một quyền tự nhiên
và căn bản đă được hiến pháp Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế công nhận.
V́ vậy, nếu dựa trên nội dung th́ pháp lệnh này phải mang tên là "Pháp
Lệnh Hạn Chế hay Vô Hiệu Hóa Tự Do Tôn Giáo" mới phù hợp. V́ Pháp
lệnh này có 41 điều th́ trong đó có:
1
điều - điều đầu tiên - nhắc lại nguyên tắc tổng quát của hiến pháp về tôn
giáo là "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào. Nhà Nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy". Trong điều này,
không có một từ nào giới hạn lại quyền tự do tôn giáo cả.
Thế
mà 40 điều sau, ngoài 4 điều liên quan đến việc thi hành pháp lệnh, th́
36 điều c̣n lại - là nội dung căn bản của pháp lệnh - hầu
như điều nào cũng đều mang tính hạn chế lại quyền tự do tôn giáo vừa được
công bố ở Điều 1. 36 điều này hầu như bao trùm hầu hết các sinh
hoạt tôn giáo chính đáng của các tôn giáo. Do đó, 36 điều này không nhiều
th́ ít đều phản lại điều 1 của chính pháp lệnh, và cũng phản lại chủ
trương tự do tôn giáo của hiến pháp. Thật vậy, Điều 1 vừa nói: "Nhà
Nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được
xâm phạm quyền tự do ấy", th́ ngay lập tức các điều sau ít nhiều ǵ
đều "xâm phạm quyền tự do ấy"! Điều 1 vừa đưa ra quyền tự do tôn giáo th́
các điều sau cứ từ từ rút lại quyền ấy có thể nói cho đến hết. V́ thế,
pháp lệnh này là một pháp lệnh trước sau bất nhất và có tính vi hiến rơ
ràng.
Như
vậy, với pháp lệnh này, trừ Điều 1 ra, Nhà Nước đă dùng hầu hết những điều
khoản c̣n lại để tước bỏ hầu hết quyền tự do tôn giáo của người dân.
Có thể nói khi soạn thảo và ban hành pháp lệnh này, Quốc hội Việt Nam
đă làm một hành động vi phạm hiến pháp. Như vậy, chính Quốc Hội ra
Hiến pháp, và thật trớ trêu, cũng chính Quốc Hội vi phạm hiến pháp ấy! Thế
th́ luật pháp Việt Nam c̣n giá trị ǵ nữa? Tóm lại, âm mưu thâm độc của
Nhà Nước - từ nhiều thập niên trước và nhất là càng về sau, đặc biệt những
ngày sắp tới sau khi pháp lệnh này bắt đầu được thi hành - là không trực
tiếp bắt ai v́ lư do hoạt động tôn giáo, v́ làm như thế th́ vi phạm quyền
tự do tôn giáo một cách quá trắng trợn! Do đó, trong quá khứ Nhà Nước đă
tạo ra những luật lệ, và hiện nay trang trọng hơn bao giờ hết, Nhà Nước
đưa ra một pháp lệnh do Quốc Hội ban hành. Chủ trương của Nhà Nước là pháp
lệnh này phải được soạn thảo thế nào để có thể biến hầu hết những hoạt
động tôn giáo chính đáng của người dân trở thành những hành vi bất hợp
pháp, hầu căn cứ vào đó Nhà Nước có lư do hợp pháp để bắt bớ, kết án, bỏ
tù những ai sinh hoạt tôn giáo. Bản chất, mục đích và nội dung của "Pháp
lệnh tín ngưỡng, tôn giáo" ban hành ngày 18-6 vừa qua tại Hà Nội là như thế.
Nếu
có một số sinh hoạt tôn giáo đang được diễn ra một cách có vẻ như tự do và
thường xuyên, th́ đó chỉ là những sinh hoạt mà chính quyền có thể kiểm
soát được một cách dễ dàng, nhất là để tỏ ra bên ngoài là Việt Nam có tự
do tôn giáo hầu đánh lừa những ai nhẹ dạ, không thấy được chiều sâu. Ngay
cả những sinh hoạt này, hầu hết cũng phải đăng kư và được chính quyền cho
phép hay chấp thuận mới được sinh hoạt. Trong 41 điều của bản pháp lệnh có
tới 18 từ "đăng kư", và 21 từ "chấp thuận", "công nhận", "cho phép" hay "được
phép". Điều cần lưu ư ở đây là trong quá khứ, "đăng kư" không có nghĩa là
báo cho chính quyền biết rồi cứ việc tự động làm, mà phải chờ đợi chính
quyền chấp thuận rồi mới được làm. Nên "đăng kư" và "xin phép" là hai động
từ tuy khác nhau, nhưng trong thực tế là hoàn toàn đồng nghĩa. Do đó,
trong 41 điều, th́ có tới 39 từ có nội dung là "xin phép" hoặc "cho phép".
V́ thế, thứ "tự do tôn giáo" được hiểu trong bản pháp lệnh này là thứ "tự
do nhưng phải xin phép", "tự do nhưng phải đăng kư". Cụm từ "nhưng phải
xin phép", hay "nhưng phải đăng kư" đă biến chữ "tự do" đi trước nó trở
thành vô nghĩa và rỗng tuếch!
Thử
hỏi, theo pháp lệnh, có sinh hoạt tôn giáo nào công khai và có tính tập thể
mà không phải đăng kư hay xin phép? Thế mà trong Pháp lệnh tôn giáo không
hề có điều khoản nào quy định những trường hợp nào th́ người có thẩm quyền
buộc phải cho phép, nếu không cho phép là vi phạm pháp luật và phải bị
trừng trị. V́ thế, những người này có thể tự do cho phép hay không cho
phép tùy hứng, tùy phán đoán riêng tư của ḿnh, tùy theo cảm t́nh riêng
của ḿnh trong từng trường hợp, và cũng có thể tùy theo trường hợp đó có
được hối lộ hay không... Chẳng hạn có khá nhiều trường hợp nhờ đút lót mà
chính quyền chấp thuận cho một chủng sinh làm linh mục, nếu không đút lót
th́ vô phương...
Nhất là chính quyền có thể dùng sự cho phép này như một ơn huệ để ân
thưởng những tu sĩ hay giáo sĩ nào chịu uốn ḿnh tuân phục hoặc sẵn sàng
làm công cụ cho Nhà Nước bất chấp lương tâm ḿnh. Hoặc dùng quyền không
cho phép để trừng phạt những tu sĩ hay giáo sĩ nào bướng bỉnh, không chịu
làm theo ư của Nhà Nước mà cứ nhất định làm theo đ̣i hỏi của lương tâm
ḿnh. Và quyền tự tiện cho phép hoặc không cho phép trong lănh vực này sẽ
chẳng khác ǵ "cây roi và củ cà rốt" để Nhà Nước có thể ép buộc tôn giáo
hay các giáo sĩ trở thành công cụ ngoan ngoăn trong tay ḿnh. Và cũng dùng
để hạn chế hoặc vô hiệu hóa hoạt động của những giáo sĩ bất khuất không
chịu "khom lưng, cúi đầu". Thật vậy, những thượng tọa, mục sư hay linh mục
đẹp ḷng Nhà Nước th́ xin xỏ cái ǵ cũng dễ, c̣n những vị không đẹp ḷng
Nhà Nước th́ xin ǵ cũng khó, cho dù điều xin ấy có cần thiết và chính
đáng đến đâu đi nữa!
Chính v́ muốn duy tŕ "cây roi và củ cà rốt"
ấy, nên trong pháp lệnh này chính quyền nhất định phải tiếp tục duy tŕ và
củng cố cho bằng được "cơ chế xin-cho" mà các nước dân chủ trên thế giới
đă bỏ đi từ nhiều thập niên, và trong nước cũng đă từng một thời bị báo
chí và dư luận đả kích.
Do
đó, thứ "tự do tôn giáo" mà pháp lệnh này chủ trương chỉ là thứ "tự do
rỗng", thứ tự do chỉ được gọi bằng danh từ "tự do" chứ không có thực chất.
Nếu cứ theo nghĩa chung của hai chữ "tự do" trong các loại tự điển th́ thứ
tự do đó chẳng c̣n là tự do chút nào nữa. Nói chính xác hơn, thứ tự do mà
pháp lệnh chủ trương là thứ "tự do kiểu xin-cho"
Minh họa cho thứ "tự do kiểu xin-cho"
Để
mọi người hiểu dễ dàng bản chất của thứ tự do này, ta có thể đưa ra một
minh họa đơn giản. Một ông chủ nói với những gia nhân dưới quyền ḿnh:
"Trên nguyên tắc, tao cho tụi bay được tự do làm tất cả mọi sự, nghĩa là
muốn làm ǵ th́ làm. Tao chỉ yêu cầu tụi bay một điều kiện duy nhất này
thôi, đó là: hễ chúng bay muốn làm ǵ th́ phải nói cho tao biết trước hoặc
xin phép tao, tao có cho phép làm th́ chúng bay mới được làm". Rồi ông
chủ đó huênh hoang khoe với những ông chủ khác: "Trong nhà tôi, tất cả
mọi gia nhân đều được tự do, muốn làm ǵ th́ làm, tôi đă cho phép họ như
thế". Nghe thế, nhiều người nhẹ dạ đă tin và tỏ ra nể nang "đức độ
và ḷng nhân từ vô cùng cao quư" của ông chủ ấy.
Thứ
tự do mà ông chủ ấy quy định cho các gia nhân cũng chính là thứ "tự
do kiểu xin-cho" trong pháp lệnh tôn giáo vừa được Nhà Nước
ban hành. Đối chiếu pháp lệnh với minh họa ông chủ và các gia nhân, ta
thấy:
Điều 1 của Pháp Lệnh đưa ra nguyên tắc chung công nhận quyền tự do tôn
giáo, tương tự như câu của ông chủ: "Trên nguyên tắc, tao cho tụi bay
được tự do làm tất cả mọi sự, nghĩa là muốn làm ǵ th́ làm".
40
điều sau lập tức vô hiệu hóa tức khắc điều 1 vừa nói, tương tự như câu của
ông chủ: "Tao chỉ yêu cầu tụi bay một điều kiện duy nhất này thôi, đó
là: hễ chúng bay muốn làm ǵ th́ phải nói cho tao biết trước hoặc xin phép
tao, tao có cho phép làm th́ chúng bay mới được làm". Giữa pháp lệnh
và câu nói trên chỉ khác nhau một điều là thay v́ nói một câu tổng quát:
"tất cả mọi hoạt động tôn giáo đều phải xin phép",
th́ pháp lệnh đă kể ra một lô những loại hoạt động phải đăng kư và xin
phép, bao trùm hầu hết các hoạt động tôn giáo chính đáng của dân chúng.
Với
pháp lệnh vừa ban hành trong đó điều 1 quy định đúng y hệt như hiến pháp,
phát ngôn viên bộ ngoại giao của CSVN có thể huênh hoang với quốc tế: Nước
Việt Nam của chúng tôi luôn luôn tôn trọng tự do tôn giáo như đă được quy
định trong hiến pháp, cụ thể nhất là trong pháp lệnh tôn giáo vừa ban hành.
Đương nhiên trên thế giới hiện nay chẳng c̣n mấy ai tin được những lời láo
khoét ấy ngoài những người dân nhẹ dạ cả tin. Dân Việt trong nước cũng như
hải ngoại đă có quá nhiều kinh nghiệm về sự dối trá ấy. Kinh nghiệm ấy dân
Việt đă đúc kết thành câu tục ngữ "nói dối như vẹm" đă được lưu truyền rất
phổ biến trong dân gian từ nửa thế kỷ nay. Nhưng bộ ngoại giao CSVN vẫn "mặt
dày mày trơ" tiếp tục dối trá trước dư luận quốc tế mà không hề ngượng
miệng!
Có thật sự cần thiết phải hạn chế tự do tôn
giáo?
Đành rằng chính quyền có thể e sợ người dân lợi dụng tự do tôn giáo, hay
lợi dụng chính tôn giáo để làm trái pháp luật, trái chính sách, làm rối
trật tự công cộng hay làm hại người khác nên phải hạn chế tự do ấy lại
chút ít trong mức độ hợp lư của nó. Nhưng nếu Nhà Nước thật sự sợ người
dân lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, th́ thiết tưởng Nhà Nước cứ
việc cho công an theo dơi, ai vi phạm pháp luật th́ cứ việc xử lư nghiêm
minh, như trong hầu hết mọi lănh vực khác. Chứ không thể v́ nỗi sợ ấy mà
lại hạn chế tự do tới mức độ hầu hết các sinh hoạt tôn giáo đều phải đăng
kư hoặc xin phép. Mà xin phép th́ không chắc ǵ được phép! khiến cho ai
sinh hoạt tôn giáo - vốn là những nhu cầu tinh thần không thể không làm -
mà không xin phép hay không có phép th́ đều trở thành vi phạm pháp luật,
cho dù họ chưa hề làm điều ǵ chính thức vi phạm pháp luật cả!
Rất
nhiều trường hợp các tín đồ tụ tập lại chỉ với mục đích cầu nguyện và nghe
giảng đạo th́ bị đă công an đến giải tán, và công an đă bắt bớ những người
đứng đầu tổ chức, coi như họ đă thật sự vi phạm pháp luật! Thử hỏi tín đồ
các tôn giáo đă làm ǵ mà Nhà Nước ta lại phải sợ bóng sợ gió việc họ lợi
dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật đến nỗi phải hạn chế được chừng nào có
thể việc họ sinh hoạt tôn giáo như thế?!
Hiện nay, sờ sờ trước mắt người dân từ mấy chục năm nay, ai cũng
thấy biết bao đảng viên Cộng Sản lợi dụng "tính đảng" để vi phạm pháp luật,
để tham lạm của công, quan liêu, cửa quyền, ức hiếp người dân...
Đó là một t́nh trạng rất phổ biến và cũng hết sức nghiêm trọng. Biết bao
người dân phải oán thoán, biết bao trí thức cũng như đảng viên yêu nước đă
lên tiếng cảnh báo về điều ấy. Thế mà Nhà Nước chẳng quan tâm bao nhiêu,
Nếu có th́ dường như chỉ giả bộ quan tâm để trấn an dân chúng, nên chẳng
có nỗ lực nào đáng kể và hữu hiệu để cải thiện t́nh trạng ấy. Nếu Nhà Nước
sợ người dân lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật nên phải ra một pháp
lệnh để ngăn chặn, th́ thiết tưởng Nhà Nước đă phải ra tới 10 hay 100 pháp
lệnh để ngăn chặn các đảng viên lợi dụng đảng vi phạm pháp luật mới đúng!
Thế mà chẳng có một pháp lệnh nào cả!
Hơn
nữa, các tệ nạn xă hội như tham nhũng, x́ ke ma túy, măi dâm, buôn bán phụ
nữ và trẻ em ra nước ngoài... đang ngày càng tràn lan làm đất nước phải
khốn đốn và chậm tiến. Tại sao những lănh vực ấy, đáng lẽ chính quyền phải
cẩn trọng tối đa để ngăn cản, th́ chính quyền lại bất cập? C̣n lănh vực
tôn giáo th́ chính quyền lại cẩn trọng một cách quá đáng đến độ phi lư như
thế? Phải chăng chính quyền coi tôn giáo c̣n nguy hiểm và xấu xa hơn t́nh
trạng tham nhũng, x́ ke ma túy, măi dâm, bán phụ nữ và trẻ em ra nước
ngoài...? Trong khi ở các nước khác, các tôn giáo đă làm được biết bao
việc tốt đẹp rất lớn lao cho người dân! Nếu không, tại sao chính quyền lại
không ra pháp lệnh để ngăn ngừa những tệ trạng ấy?
Những nước khác đâu có pháp lệnh đặc biệt cho các tôn giáo mà có mấy ai
lạm dụng tôn giáo để phạm pháp?! Chẳng lẽ chính quyền đánh giá tín đồ các
tôn giáo tại nước ḿnh lại quá chừng tệ hơn tín đồ ở các nước khác trên thế
giới? nhất là khi mà lực lượng công an ở nước ḿnh nổi tiếng là rất hùng
hậu, luôn luôn theo dơi hữu hiệu mọi hoạt động của người dân? Cần ǵ phải
đề pḥng tôn giáo cách quá mức cẩn thận như thế?
C̣n
nếu Nhà Nước sợ các tôn giáo chống lại chính quyền, th́ đúng ra Nhà Nước
càng phải để cho các tôn giáo được tự do, như thế mới hợp lư! Đằng này Nhà
Nước lại ngày càng hạn chế quyền tự do tôn giáo của người dân! Chỉ cần so
sánh sắc lệnh 234S/L đầu tiên về Tôn giáo do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh kư
ngày 14-6-1955 với pháp lệnh vừa ban hành, ai cũng thấy, về mặt pháp luật,
rơ ràng là có sự leo thang đàn áp rất lớn! Điều này chỉ khiêu khích người
dân vốn không có ư muốn chống lại Nhà Nước cũng phải chống để được tự do
hơn. Nếu không tranh đấu th́ các tôn giáo chắc chắn sẽ bị ngộp thở, sống
không ra sống mà chết không ra chết! Việc các tu sĩ như HT Thích Huyền
Quang, TT Thích Quảng Độ, LM Nguyễn Văn Lư, MS Nguyễn Hồng Quang... phải
lên tiếng tranh đấu chính v́ Nhà Nước đă thật sự đàn áp tôn giáo, đă hạn
chế quá đáng quyền tự do tôn giáo của người dân. Nếu có tự do tôn giáo
thật sự, các vị ấy đă chẳng lên tiếng tranh đấu làm ǵ! Thiết tưởng Nhà
Nước cần phải thành thực nhận chân và chấm dứt t́nh trạng đàn áp này.
Chính Lênin, một ông tổ của chế độ Cộng Sản, đă nói một câu khá chí lư: "Ở
đâu có bất công, đàn áp, ở đấy có tranh đấu". Phải chăng khi
bắt bớ, vu khống và bỏ tù những người tranh đấu, Nhà Nước muốn dùng biện
pháp thật mạnh để vừa gia tăng đàn áp vừa bịt miệng mọi người để không c̣n
ai dám lên tiếng tranh đấu nữa? Như thế có khác ǵ vừa dẵm lên chân người
ta lại vừa cấm người ta kêu đau!
Nếu
pháp lệnh tôn giáo vừa ban hành mà được áp dụng th́ sẽ có vô số những hoạt
động tôn giáo chính đáng bị coi là vi phạm pháp luật chỉ v́ không đăng kư,
xin phép, hoặc xin phép mà không được chính quyền chấp thuận. Chẳng hạn
việc cầu nguyện chung tại tư gia, truyền đạo tại những nơi không phải là
cơ sở tôn giáo được Nhà Nước chấp thuận, lập các trang web tôn giáo, in ấn
các tài liệu tôn giáo, hay các hoạt động văn hóa, xă hội, giáo dục, từ
thiện, v.v... Những hoạt động tôn giáo chính đáng này, tín đồ các tôn giáo
ở hầu hết các nước trên thế giới đều được làm một cách thoải mái, không
cần phải đăng kư hay xin phép rồi mới làm, mà không bao giờ bị coi là vi
phạm pháp luật. Thế mà các tín đồ tôn giáo tại Việt Nam, khi thực hiện
cũng những hoạt động ấy, nếu không xin phép và được phép th́ đều bị coi là
vi phạm pháp luật, và có thể bị bắt hay bị tù. Như vậy làm sao bảo được là
Việt Nam có tự do tôn giáo? Chẳng lẽ cuộc tranh đấu của nhân dân ta suốt
thế kỷ qua, tốn hàng triệu nhân mạng và gây đau khổ cho nhân dân cả nước
lại chỉ đạt được một thứ tự do kém hẳn các nước khác trên thế giới? Như
vậy có đắt giá quá mức không?
Tại sao lại... cứ phải được Nhà Nước công nhận?
Một trong những điểm quái đản của pháp lệnh tôn
giáo là: chỉ những tôn giáo nào, hoặc giáo sĩ hay tu sĩ nào được Nhà Nước
công nhận th́ mới được hoạt động tôn giáo hay truyền đạo.
Như vậy chẳng lẽ tôn giáo nào không được Nhà Nước công nhận th́ không c̣n
là tôn giáo nữa hay sao? Chẳng lẽ thượng tọa, mục sư hay linh mục nào
không được Nhà Nước công nhận th́ không c̣n là thượng tọa, mục sư hay linh
mục nữa, và cũng tự nhiên không c̣n nhu cầu hay bổn phận tôn giáo của ḿnh
nữa hay sao? Làm thượng tọa, mục sư hay linh mục mà không thi hành chức
năng hay bổn phận của ḿnh là hoằng pháp, truyền đạo, rao giảng giáo lư
th́ làm thượng tọa, mục sư hay linh mục để làm ǵ?
Tôi vốn là một con người, nhưng chẳng lẽ nếu
Nhà Nước không công nhận tôi là người, th́ tôi sẽ không c̣n là người nữa
hay sao? tôi sẽ không c̣n có
những nhu cầu tự nhiên cần phải thỏa măn của con người nữa hay sao? và
không c̣n được phép làm những ǵ thích hợp với bản chất con người nữa hay
sao? - Hay khi tôi có bệnh, nếu Nhà Nước không công nhận tôi có bệnh th́
chẳng lẽ tôi không c̣n bệnh, không cần uống thuốc hay điều trị nữa, và Nhà
Nước có thể dựa vào sự không công nhận đó để cấm tôi uống thuốc và điều trị
bệnh hay sao? Thật là phi lư và ngược ngạo!
Chúng tôi xin được hỏi những đảng viên Cộng Sản:
nếu một tôn giáo hay một tổ chức nào đó không chịu công nhận các vị là
đảng viên đảng Cộng Sản, th́ có phải v́ thế mà các vị không c̣n là đảng
viên đảng Cộng Sản nữa không? Có
phải v́ thế mà các vị không c̣n bổn phận ǵ đối với đảng nữa không?
Tôi
nghĩ rằng một học sinh cấp một cũng nhận ra rằng: nếu là một đảng viên
Cộng Sản thực thụ th́ cho dù cả thế giới không công nhận, người ấy cũng
vẫn là đảng viên của đảng Cộng Sản. Không thể v́ người ngoài đảng không
công nhận mà người ấy trở thành không c̣n là đảng viên nữa và v́ thế không
c̣n nhiệm vụ ǵ đối với đảng nữa! Ấy thế mà những người soạn thảo ra pháp
lệnh này lại có thể cho rằng một thượng tọa, mục sư hay linh mục mà không
được Nhà Nước công nhận th́ không c̣n là thượng tọa, mục sư hay linh mục
nữa, nên Nhà Nước có quyền cấm họ thi hành chức năng hay bổn phận tôn giáo
của họ! Lư luận sơ đẳng như thế mà cả Quốc Hội Việt Nam không ai nắm được
sao?
Những tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, v.v... đă
xuất hiện và hoạt động trên thế giới cả hàng ngàn năm nay, được thế giới
công nhận cũng cả ngàn năm, đang khi đảng Cộng Sản mới chỉ xuất hiện chưa
đầy 100 năm! Thế mà nay Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam lại đặt ra tṛ công
nhận hay không công nhận tôn giáo này tôn giáo kia, cho phép hoặc không
cho phép tôn giáo này tôn giáo hoạt động! Thật là ngạo mạn và ngược đời!
Hay
việc đ̣i hỏi phải được công nhận này là một cách để nghiêm cấm những tôn
giáo, hoặc thượng tọa, mục sư, linh mục nào không chịu khuất phục đảng và
Nhà Nước? V́ Nhà Nước chỉ cần không công nhận tôn giáo đó là tôn giáo th́
tôn giáo ấy lập tức không được hoạt động, hoặc không công nhận ai là
thượng tọa, mục sư hay linh mục th́ mọi việc thi hành chức năng tôn giáo
của người ấy đều trở thành vi phạm pháp luật và có thể v́ thế mà bị bắt
hay ở tù! Ở những nước tự do, có Nhà Nước nào lại đặt vấn đề công nhận hay
không công nhận tôn giáo nào là tôn giáo, hay người nào là thượng tọa, mục
sư hay linh mục đâu! Việc công nhận hay không công nhận ấy là do nội bộ
của các tôn giáo chứ đâu phải là việc của Nhà Nước! Cũng như việc công
nhận hay không công nhận một người là đảng viên Cộng Sản là chuyện nội bộ
của đảng chứ đâu phải là việc của người ngoài đảng! Nhà Nước không c̣n
việc ǵ phải bận tâm nữa hay sao mà lại quơ vào cho ḿnh nhiệm vụ của
người khác như thế? Có ai trong các tôn giáo lại thừa việc để nghĩ đến
chuyện công nhận hay không công nhận người này người kia là đảng viên Cộng
Sản hay không? May thay việc công nhận hay không công nhận này lại có rất
nhiều trường hợp bị phản tác dụng! Có những tôn giáo chính v́ được Nhà
Nước công nhận và cho phép hoạt động dễ dàng mà bị dân chúng nghi ngờ, tẩy
chay, và bị gọi là "tôn giáo quốc doanh", tức không phải là tôn giáo chính
tông mà chỉ một thứ công cụ của Nhà Nước! Có những thượng tọa, mục sư hay
linh mục chính v́ được Nhà Nước công nhận và đề cao mà bị dân chúng nghi
ngờ là sư hổ mang, là mục sư hay linh mục quốc doanh, là tay sai của chế
độ, là người được đảng và Nhà Nước cài vào để phá hoại nội bộ Giáo Hội.
Nghĩa là họ không phải là những vị thượng tọa, mục sư hay linh mục đích
thực hay chân chính. Và đương nhiên trong bụng người giáo dân luôn có sự
nghi kỵ và đôi khi khinh bỉ ra mặt những vị tu sĩ này. Trái lại, giáo sĩ
hay tu sĩ nào càng bị Nhà Nước phủ nhận và cấm hoạt động th́ càng được dân
chúng yêu mến, kính phục và coi đó như một dấu chỉ chắc chắn để xác quyết
người ấy là giáo sĩ hay tu sĩ chân chính trong tôn giáo của người ấy!
Tại sao người Cộng Sản được tự do tuyên truyền lư thuyết của ḿnh, c̣n
tín đồ các tôn giáo th́ không?
Một
điều phi lư trong Pháp lệnh tôn giáo là mọi hoạt động truyền đạo đều phải
xin phép, mà xin phép th́ chưa chắc đă được, trong khi người Cộng Sản th́
hoàn toàn được tự do tuyên truyền lư thuyết của ḿnh. Chẳng những người
Cộng Sản không phải xin phép mới được tuyên truyền, mà họ c̣n có quyền ép
buộc sinh viên học sinh phải học lư thuyết của họ nữa? Như thế có phải là
mọi công dân đều b́nh đẳng trước pháp luật không? Thử hỏi như thế có hợp
lư không, khi mà người Cộng Sản chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong dân
chúng (khoảng 2%), c̣n các tín đồ tôn giáo chiếm tỷ lệ cao hơn rất nhiều (chẳng
hạn Phật giáo khoảng 30%, Thiên Chúa giáo 8%, Cao Đài 4%, Ḥa Hảo 3%, v.v)?
Sự bất b́nh đẳng này rơ ràng chứng tỏ Nhà Nước hiện nay là Nhà Nước
của người Cộng Sản và v́ người Cộng Sản, chứ không phải của nhân dân hay
v́ nhân dân.
Pháp lệnh sẽ là công cụ để leo thang đàn áp tôn
giáo
Trước đây, những luật lệ về tôn giáo chỉ được quy định bởi các Nghị quyết
của Đảng, các Nghị định của Thủ tướng chính phủ hay của Uỷ ban Tôn giáo
trung ương, bây giờ luật lệ về tôn giáo đă được chính thức ban hành bởi
Quốc Hội, và được gọi là "Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo". Khi chưa có
pháp lệnh tôn giáo - nghĩa là khi chưa có những quy định chính thức của
quốc hội, chỉ có những quy định của các cơ quan thấp hơn - mà đă có rất
nhiều sinh hoạt tôn giáo chính đáng bị coi như bất hợp pháp và bị công an
đến phá đám, ép buộc giải tán. Vậy th́ sau khi có Pháp lệnh tôn giáo, công
an sẽ leo thang trong việc phá đám và đàn áp các sinh hoạt tôn giáo đến
mức nào!?
Chưa có Pháp lệnh tôn giáo, nghĩa là chưa có sinh hoạt tôn giáo nào bị
quốc hội chính thức coi là bất hợp pháp, là vi phạm pháp luật, thế mà biết
bao lần những buổi nhóm họp để cầu nguyện của các Hội Thánh Tin Lành tại
rất nhiều nơi đă bị công an đến phá đám, dẹp bỏ, đồng thời bắt bớ và bỏ tù
những người đứng tổ chức cầu nguyện. Chưa có pháp lệnh tôn giáo mà tại Sơn
La, Lai Châu, Tây Nguyên, và nhiều vùng khác, biết bao lần công an đă tịch
thu các sách Thánh Kinh, sách kinh và sách giáo lư của các tín hữu Công
Giáo, và cấm không được tụ tập để cầu nguyện rồi! Không hiểu khi pháp lệnh
này bắt đầu có hiệu lực, việc đàn áp tôn giáo sẽ leo thang đến mức nào? Từ
trước đến nay các tôn giáo đă bị đàn áp "te tua" đến mức không chịu nổi,
không biết sau khi Nhà Nước huy động lực lượng đến cả quốc hội, là cơ quan
lập pháp cao nhất nước - để ra một pháp lệnh hạn chế quyền tự do tôn giáo
một cách chính thức và long trọng như thế, th́ tôn giáo sẽ bị đàn áp đến
mức độ nào?
***
Do
đó, chúng tôi đồng lập trường với Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn khi ngài công
khai phát biểu: "Đừng nên ban hành Pháp Lệnh này th́ hơn!"
Và chúng tôi rất mong Nhà Nước rút lại pháp lệnh này. Việc thực hiện
pháp lệnh này sẽ chỉ gây nên những cuộc tranh đấu mạnh mẽ hơn cho tự do
tôn giáo ở trong nước! Và chính quyền sẽ lại phải bỏ ra thêm biết bao công
lao để bắt bớ và bỏ tù thêm biết bao người dân vô tội nữa! Hơn nữa, pháp
lệnh này c̣n cho thấy quốc hội, những người soạn thảo và ban hành nó, chỉ
gồm toàn những người chẳng biết lẽ phải là ǵ, chẳng hề tranh đấu cho
quyền lợi của dân, mà là một công cụ ngoan ngoăn chỉ biết làm theo lệnh
Đảng, hùa theo Đảng để đàn áp dân, và chẳng c̣n phân biệt được điều ǵ hợp
lư điều ǵ phi lư, điều nào là ích nước điều nào là hại dân!
Chúng tôi cũng xin tất cả những ai thiện chí trên thế giới, đặc biệt các
tín đồ tôn giáo trong nước cũng như hải ngoại, hăy lên tiếng mạnh mẽ để
đ̣i buộc Nhà Nước CSVN phải thật sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo, một
nhu cầu tự nhiên và cũng là một quyền chính đáng của người dân mà chính
Nhà Nước Việt Nam đă long trọng nh́n nhận và cam kết tôn trọng tại Liên
Hiệp Quốc. Đây là lời kêu cứu khẩn thiết nhất của chúng tôi. ♣
Việt Nam, ngày 15-8-2004
Lm Chân Tín,
LM Nguyễn Hữu Giải,
LM Phan Văn Lợi
|