NHỮNG YẾU KÉM VỀ KINH TẾ - XĂ HỘI VIỆTNAM

TRONG NĂM 2004

 

                                                                                                                         HOÀNG QUẾ

 

Trong năm 2003, các vấn đề về SARS đă ảnh hưởng đến ngành du lịch và gần đây dịch cúm gà là một khó khăn cho Việt Nam (VN). Nhưng VN đă thành cộng tổ chức SEA games kỳ 22 và Para SEA games kỳ 2 (cho người tàn tật) trong năm qua.  

 

Hiện giờ VN được coi là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới với 7.2%/năm. Tỷ lệ đầu tư nước ngoài (FDI) vào VN, mặc dù là một con số nhỏ (dưới $ 2 tỷ) tượng trưng cho 8% GDP. Tỷ lệ này hơn cả FDI tại Trung quốc. 

 

Năm 1993, theo thăm ḍ của World Bank và của viện Thống kê VN, 59% dân chúng được coi là nghèo và khi làm thăm ḍ lại vào 2002, tỷ lệ người nghèo tụt xuống c̣n 29%. Đây là một tiến bộ, thành công mau chóng về xóa đói giảm nghèo.

 

Thành công tương đối về kinh tế

 

VN là nước thứ hai về xuất khẩu gạo (4 triệu tấn), sản xuất 16 triệu tấn than và thành công trong nhiều mặt khác. Trong những năm gần đây, kinh tế VN phát triển mau chóng là nhờ xuất khẩu hàng hóa (tăng 20%) nhờ nhân công rẻ và đầu tư nước ngoài đă mau chóng lợi dụng nguồn nhân công rẻ.  Nhờ tăng trưởng, VN nay nhận nhiều tiền về xuất khẩu ($20 tỷ) và kiều hối ($ 3-4 tỷ) hơn là tiền viện trợ nước ngoài (gọi là ODA ở mức dưới $ 2tỷ).

 

GDP VN năm 2003 là $ 39 tỷ, một con số c̣n rất nhỏ. Tỷ lệ tăng trưởng th́ cao (7.2%/năm) nhưng từ 2000 đến 2003, trong 3 năm cả nước chỉ đóng góp thêm vào GDP (Tổng sản lương quốc nội) là $7.3 tỷ [GDP 2001 là $ 32.7 tỷ và GDP 2003 là $ 39 tỷ].  Như vậy trung b́nh mỗi năm mỗi người chỉ đóng góp thêm vào GDP có $ 30/năm.

 

Từ khi VN có bản thương ước Việt-Mỹ, xuất khẩu sang Mỹ đă tăng trên 200%.  Việc này cũng mang nhiều tranh chấp thương mại giữa hai bên, như vụ cá tra và tôm và gần đây nhất, việc bộ thương mại Mỹ giảm quota hàng may dệt của VN v́ các vụ gian lận của một số công ty VN dùng hàng Trung quốc cho vào quota VN.  Dù sao đi nữa, hàng may mặc xuất khẩu qua Mỹ đă tăng trong 3 năm (2001-2004) từ $ 47 triệu lên đến $ 2.4 tỷ. 

Là một nước nông nghiệp cho nên các hàng xuất khẩu VN đa dạng, gồm nhiều nông sản, cho nên ít bị ảnh hưởng khi có những thay đổi trên thị trường thế giới. Thị trường cá tra tại Mỹ giảm nhưng các nhà xuất khẩu VN đă t́m thấy các thị trường khác tại Âu châu và tại Úc. Như vậy việc xuất khẩu cá tra tiếp tục tăng.  

Các thay đổi về luật Doanh nghiệp năm 2000 đă giúp khu vực tư tăng trưởng mau chóng nhưng hiện nay. VN vẫn c̣n thiếu các doanh nghiệp cỡ trung.  Các doanh nghiệp này thiếu đất và vốn, trong khi tất cả đất đai là do nhà nước quản lư. V́ vậy, các doanh nghiệp cỡ trung khó đi vay ngân hàng v́ không có thế chấp. Hiện nay, mặc dù khu vực tư đóng góp càng ngày càng nhiều nhưng nó c̣n yếu kém v́ bị doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chẹt.

              Tham nhũng là môt tổn phí khác đè nặng nề nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và trung.  Các doanh nghiệp này bị phiền hà qua các vụ thanh tra có thể lên đến 15 lần/năm và các rờm rà hành chính khác.

VN đang mong gia nhập WTO nhưng hiện nay cũng có BTA với Mỹ và cũng ở trong AFTA của ASEAN.

 

VN c̣n nhiều vấn đề trong nông thôn

75% dân chúng VN c̣n sống ở nông thôn. Mặc dù vậy, chỉ có một số nhỏ ngân sách được đổ cho khu vực nông thôn. Chính sách đầu tư của nhà nước vẫn thiên về DNNN và v́ vậy chính phủ vẫn dành ưu tiên đầu tư vào các khu vực không mấy mang lời như nhà máy lọc dầu Dung quất bắt đầu từ 1992 đến nay mà vẫn chưa có nhà máy, may ra vào năm 2008?), nhà máy luyện thép, các nhà máy đường, phân bón, vv. 

Hậu quả thứ nhất của chính sách đầu tư cho khu vực công, cho các DNNN là việc sử dụng vốn đầu tư với hiệu quả thấp.  Chính sách công nghiệp và hậu quả của việc sử dụng vốn đầu tư cho thấy là trong thời gian mới đây (2000-2003), tỷ lệ ICOR của VN đi từ 3-4 tăng lên 5-6.  Con số này có nghĩa là trước đây chỉ cần $3-4 đôla đầu tư để làm ra $ 1 đôla sản phẩm hay dịch vụ trong khi bây giờ cần đến $5-6 đôla để làm ra $ 1 sản phẩm hay dịch vụ.   Cái làm cho tỷ lệ ICOR cao xuất phát từ các công tŕnh đầu tư công. Chính công nghiệp đ̣i hỏi nhiều đầu tư về cơ sở hạ tầng giao thông, các nhà máy thép hay công nghiệp đ̣i hỏi nhiều đầu tư, thủy lợi ngốn vốn rất lớn mà hiệu quả không tương xứng (6-7 đồng đầu tư mới có 1 đồng tăng trưởng). 

Hậu quả thứ hai của chính sách thiên DNNN là sự cách biệt lợi tức giữa nông thôn và thành thị tăng.  V́ chính sách đầu tư cho các DNNN tại các thành thị, hay chung quanh các thành thị, nông thôn đă bị bỏ quyên. Các con số của Tổng cục Thống kê công bố sau khi điều tra về thu nhập và mức sống của dân cư thời kỳ 1999-2002 cho thấy là sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa người giàu và nghèo ngày càng gia tăng. 

Tuy là mức độ cải thiện mức sống và kết quả đạt được về xoá đói giảm nghèo tốt nhưng không cao bằng giai đoạn 1993-1999. 

Trong năm 2001-2002, thu nhập b́nh quân 1 người 1 tháng tính chung cả nước theo giá hiện hành đạt 356 ngh́n đồng, tăng 20,6% so với năm 1999. Thu nhập b́nh quân 1 người 1 tháng ở khu vực thành thị đạt 622 ngh́n đồng, tăng 18,4%; ở khu vực nông thôn đạt 275 ngh́n đồng, tăng 22,3% so với năm 1999. Tuy nhiên, thu nhập của hộ gia đ́nh thành thị vẫn cao hơn nhiều nông thôn. Thu nhập b́nh quân 1 người 1 tháng năm 1993, 1999 và 2001-2002 ở khu vực thành thị tương ứng gấp khu vực nông thôn 2,34; 2,30 và 2,26 lần. 

Tuy nhiên, thu nhập giữa các vùng có sự chênh lệch đáng kể. Tổng cục Thống kê tính toán, năm 1999, thu nhập b́nh quân của nhóm hộ giàu nhất (nhóm 10) lớn gấp 12 lần nhóm hộ nghèo nhất (nhóm 1). Năm 2002 tỷ lệ này tăng lên 13,75 lần.  [Chúng ta nên nhớ là Trung quốc đă thay đổi chính sách kinh tế v́ khỏang cách nông thôn thành thị là 2.3 lần].

Theo Cục Thống kê, đa số người nghèo ở vùng nông thôn, ở trong vùng sâu, vùng xa, phần đông là đồng bào thiểu số. V́ vậy ở nông thôn, các dịch vụ về giáo dục và y tế rất thiếu thốn. Ví dụ điển h́nh là hệ thống các trạm y tế nông thôn. Hệ thống này chỉ nhận được 5% ngân sách Y tế và nằm trong ṿng luẩn quẩn “thiếu ngân sách đi đến cảnh nhân viên yếu kém và đi đến chỗ ít người sử dụng”[1]/. Trong khi hệ thống trạm y tế nông thôn dịch vụ cho 75% dân chúng, ngân sách y tế cho 10% cho hệ thống này[2]/ kể cả lương nhân viên y tế. Các gia đ́nh nghèo phải chịu thiệt tḥi v́ phải trả các chi phí và dịch vụ y tế [3]/.  Hơn nữa, chi phí chuyên chở [4]/, là những trở ngại cho dân nghèo ở nông thôn trong việc t́m các dịch vụ y tế. 

Giáo dục nông thôn là một ví dụ khác.  Tính đến hết tháng 2, có 19 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi; 18 tỉnh, thành phố được công nhận phổ cập trung học cơ sở; 2.628 trường tiểu học được công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, chiếm 19,3% tổng số trường tiểu học trong cả nước.

Như vậy tại VN khoảng cách giàu nghèo là một khoảng cách khổng lồ, và xă hội VN trượt dốc theo khuynh hướng cách biệt ngày càng xa dần: người giàu ngày càng giàu hơn và người nghèo càng ngày rơi vào cuộc sống cùng khổ…

T́nh h́nh khu vực xă hội là một bức xúc.  Y tế công cộng c̣n nhiều yếu kém, nhất là trong việc điều hành mạng lưới y tế công cộng tại nông thôn.  Nếu nh́n chung th́ VN có mức chi tiêu thấp nhất tại ASEAN về khu vực y tế với US$ 0.83/người cho 1989, $1.42/người cho 1993, $ 3.20/người cho 1997 và $ 5.4/người cho 2002 nhờ vào viện trợ ODA của nước ng̣ai.

Các chi tiêu y tế của chính phủ dưới 1% GDP năm 1990 và vẫn c̣n ở mức này 1% GDP [5]/ vào 2001 (không kể ODA). Theo nghiên cứu của World Bank [6]/ ngân sách nhà nước, viện trợ ODA, bảo hiểm y tế chỉ trả cho 19.5% chi tiêu y tế trong khi các gia đ́nh phải bỏ tiền túi trả 80.5%. Tại nông thôn dân chỉ có 10% cơ hội được chữa trị bởi một bác sĩ. [7]/ 

 

Để có thể hiểu thiếu thốn ngân sách cho y tế nông thôn, 21% ngân sách y tế là cho xây cất, 23% cho lương nhân viên, 59% cho dịch vụ và thuốc và 4% cho y tế giúp người nghèo.

 

Ví dụ trong vụ cúm gà, số trường hợp xét nghiệm vi rút H5N1 dương tính là 22 người, trong đó có 15 người đă tử vong. Bộ Y tế đă chỉ đạo, hướng dẫn nhưng chưa có sự phối hợp đồng đều giữa việc pḥng chống bệnh cúm và điều trị bệnh viêm do virút tại các cơ sở y tế và các địa phương, đồng thời phối hợp với các ngành liên quan tiến hành việc pḥng chống dịch cúm gia cầm để tránh lây sang người.

 

Mới đây, nhân kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI ngày 11 tháng 5. 2004, bài thuyết tŕnh của bà Nguyễn Thị Hoài Thu, Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xă hội đă nói lên các yếu kém trong khu vực này. Theo bà về y tế, c̣n 5 vấn đề bức xúc: 

 

§                              Sự xuống cấp y- đức ở một bộ phận cán bộ y tế.

§                              Nhiều bệnh nhân có bảo hiểm y tế (BHYT) chưa đồng t́nh với BHYT trong khi kết dư quỹ BHYT khá lớn (cuối năm 2003 c̣n dư gần 2.000 tỉ đồng) và bệnh nhân có BHYT chưa được chăm sóc chu đáo, nhất là những người dân ở vùng sâu, vùng khó khăn.

§                              Giá thuốc tăng gây lo âu cho mọi người nhất là những bệnh nhân nghèo.

§                              Chưa có cơ chế đảm bảo thực hiện pḥng bệnh, chưa đảm bảo cân đối đầu tư chăm sóc sức khỏe giữa các vùng miền.

§                              Hoạt động y tế có dấu hiệu thương mại hóa hơn là xă hội hóa.

              Đây là một thí dụ về ngành y tế công cộng mà thôi.

              Nói tóm, khi muốn đánh giá hay nh́n vào kinh tế VN, ta cần nh́n sâu hơn là các con số về tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hay tăng GDP.♣

 

                                                                                                                                                                                  12. 5. 2004

 

Trích trong:

 

Mục Thời sự, Báo điện tử

của Tạp chí Dân chủ & Phát triển: www.dcvapt.org

 

 

 

 

 

 

 

 



[1]/ Fritzen, S, “Decentralization, disparities, and innovation in VN’s health sector,” in Market Reform in VN edited by J. Litvack and D. Rodinelli, Quorum Book, Wesport, Connecticut, 1999.  

[2]/ WHO, “Current issues in SWAP”, WHO, page 8, 2002

[3]/ ADB, “Human Capital of the Poor in Vietnam,” ADB publication, 2001, page 55-56

[4]/ UN report “UN report on Poverty elimination in VN,” Oct. 1995 give a good picture of the difficulties facing by poor families.     

[5]/ UNDP facts sheet March 2003, www.undp.org.vn 

[6]/ “Growing Healthy: a Review of VNs Health Sector,”World Bank Sector Report No 22210, June 29, 2001, page 144.  

[7]/ UNDP/UNICEF/UNFPA, “Poverty Elimination in Vietnam,” Hanoi, Oct 10, 1995, page 55. See reports from United Nations, “Catching up - Capacity Development for Poverty Elimination in Vietnam”, UNDP and UNICEF, Hanoi, Oct.1996; United Nations, “Poverty Elimination in Vietnam”, UNDP, UNFPA and UNICEF, Hanoi, Oct. 1995; World Bank, D. de Walle, Protecting the Poor in Vietnam's Emerging Market Economy,” Sept., 1998 and W Bank, “Advancing Rural Development in VN,” Dec. 1998.