KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2003:

 

ĐÁNG KHÍCH LỆ NHƯNG C̉N NHIỀU BẤT CẬP

 

TS  XUÂN QUANG

 

Đánh giá một cách khách quan có thể nói năm 2003 là năm VN có mức tăng trưởng kinh tế cao  mặc dù có nhiều khó khăn, trong đó tiêu biểu là  nguy cơ của  dịch bệnh Viêm đường hô hấp cấp tính (SARS) làm giảm du lịch và gây khó khăn cho khu vực khách sạn - nhà hàng, các đợt lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều vùng, và chiến tranh Iraq ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo.  Một trong những thành tích nữa của VN là đă tổ chức thành công SEA Games 22 và ASEAN Para Games (Đại hội thể thao của người khuyết tật ASEAN). 

 

1. Các chỉ số kinh tế đáng khích lệ

 

Trong năm 2003, ước tính mức tăng GDP đạt 7.24%, cao hơn 0.2% so với năm 2002 và là mức tăng cao nhất từ sáu năm nay. Đây cũng là một trong những mức tăng trưởng kinh tế cao nhất trong khu vực và trên thế giới.  Mặc dù tỉ lệ tăng GDP của VN cao như vậy, nhưng GDP  ước tính chỉ  tăng $ 4 tỷ, từ $35 tỷ năm 2002 lên khoảng $ 39 tỷ trong năm 2003. Nếu so sánh dân số VN xấp xỉ 80 triệu người th́ con số $ 39 tỷ GDP này c̣n quá nhỏ bé so với nhiều nước trong vùng.

 

Tăng trưởng công nghiệp - xây dựng đạt 16%, mức cao nhất từ ba năm qua. Công nghiệp và xây dựng chiếm 40% của GDP và đóng góp 53% cho sự tăng trưởng của GDP.  Sản xuất than đạt trên 16 triệu tấn trong khi VN đă xuất khẩu trên 13 triệu tấn dầu thô.

 

Về nông nghiệp, sản xuất lương thực quy ra thóc lên đến 37.5 tấn và VN năm nay đă giành lại được ngôi vị nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới với trên bốn triệu tấn.  Xuất khẩu thủy sản đă đạt trên $ 2.2 tỷ. Tăng trưởng khu vực nông lâm sản tăng 3.2%, c̣n khu vực dịch vụ đă lên 6.6%, mức cao nhất từ sáu năm qua. 

 

Tổng số kim ngạch xuất khẩu lên U$19.8 tỷ. Tổng số kim ngạch xuất khẩu tăng 19% trong khi nhập khẩu tăng 26.7% lên đến 24.9 tỷ. Như vậy VN nhập siêu là $ 5.15 tỷ hay 26% trị giá xuất khẩu. Các doanh nghiệp (DN) nội địa xuất khẩu $ 9.84 tỷ trong khi các DN có đầu tư nước ngoài xuất khẩu $ 10 tỷ, tăng 27.1%. Nguyên nhân là một số mặt hàng nông nghiệp tăng giá như cao su, cafê, dầu thô, vv. và việc thực thi hiệp định thương mại Việt Mỹ đă giúp các khu vực may dệt và thuỷ sản.  

 

Thu ngân sách tăng 7.1% so với dự định và tăng 11.2 % so với ngân sách năm 2002. Thâm hụt ngân sách ở mức dưới 5% GDP. Tiêu thụ tăng 12.1% so với năm 2002 và giá cả trên thị trường chỉ tăng 3% và hối suất đồng nội tệ so với đôla chỉ tăng 2.2%.

 

Tỷ lệ đầu tư đă chiếm 35.6 % GDP, tăng 18% so với năm 2002. Hiện nay, ở VN cứ 100 hộ gia đ́nh th́ có 8.5 thuê bao điện thoại, một mục tiêu mà VN đề ra cho năm 2005, như vậy là VN đă hoàn thành mục tiêu trước hai năm trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, giá cước điện thoại vẫn là một vấn đề lớn ở VN.

 

Một thành công khác là các nước viện trợ trong nhóm CG đă hứa dành cho VN $2.8 tỷ viện trợ ODA cho năm 2004.

 

Về kinh tế - ngoại giao, VN tiếp tục muốn gia nhập WTO năm 2005 cho thấy ư muốn thay đổi cơ cấu kinh tế để nhập hội. VN c̣n tham dự các Hội nghị thượng đỉnh Bali, hội nghị APEC tại Bangkok, Hội nghị về hợp tác Nhật-ASEAN tại Tokyo và cuối năm 2003, VN đă kư một hiệp định bảo vệ đầu tư với Nhật, một hiệp định mà Nhật mới chỉ kư với 11 nước.     

 

2. Những bất cập trong kinh tế

 

VN có thâm thủng thương mại và cán cân chi phó, nhập siêu tương đối cao, chất lượng của sự tăng truởng kinh tế c̣n thấp (tỉ lệ tăng trưởng cao, nhưng con số tăng c̣n thấp) và khả năng cạnh tranh c̣n yếu. Đó là hệ quả các chính sách kinh tế chưa tốt v́ vẫn theo định hướng XHCN. 

Chính sách công nghiệp và việc sử dụng vốn đầu tư chưa được tốt.  Trong thời gian 2000-2003,  tỷ số ICOR (tỷ lệ vốn trên sản xuất) ở mức cao 5-6 như vậy, VN cần $5-6 đầu tư mới có $1 tăng trưởng. Việc này cho thấy là hiệu quả các đầu tư vào VN không cao nhất là khi  đầu tư của khu vực tư nhân ICOR ở mức 3-4 mà thôi. 

Các quyết định đầu tư của VN theo định hướng XHCN cũng cần phải đặt câu hỏi.  Thí dụ, năm 1995 VN quyết sản xuất một triệu tấn đường và v́ vậy đă đầu tư xây cất trên 32 nhà máy cán và lọc mía đường với số vốn là $ 750 triệu và $ 350 triệu xây dựng hạ tầng.  Nay tổng cộng VN có 44 nhà máy. Theo World Bank th́ các nhà máy đường này chỉ có khả năng lấy lại được 60-75% vốn đầu tư sản xuất.  Một tấn đường VN sản xuất ở khoảng $ 278/tấn trong khi giá cả trên thế giới là $218/tấn. V́ vậy khi VN sản xuất một tấn đường th́ đă lỗ $ 60 rồi. Hơn nữa 44 nhà máy này chỉ gây được một số việc làm không đáng kể.  

Việc đáng chú ư là một số dự án đầu tư chưa tốt. Tiêu biểu là Dự án đầu tư nhà máy lọc dầu Dung quất được bàn từ 1992, nhưng nay đă vào 2004 mà nhà máy này cũng chưa xây xong. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, sau khi xây dựng xong nhà máy lọc dầu Dung quất, mỗi năm sẽ phải bù chi phí khoảng $130 triệu cho nhà máy.

Trong năm 2003 mặc dù tỷ lệ đầu tư đă tăng lên 35.6%, nhưng khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) không gây thêm việc làm cho dân. Nguyên nhân là DNNN đầu tư vào các dự án không gây nhiều lao động. Một nhà máy xi măng $ 200 triệu chỉ gây được 1000 chỗ làm. Nếu số tiền đó dành cho khu vực tư th́ số lao động sẽ gấp ba đến năm lần. Trong phúc tŕnh về khả năng cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness) điều tra tại 102 nước th́ VN đứng hạng 73 trong lĩnh vực công nghiệp nghĩa là c̣n khá thấp, 

Hơn nữa VN đang phải trả giá khá cao để đạt được mức tăng trưởng hơn 7% v́ sự thất thoát quá cao - tới 30% trong tổng số vốn đầu tư của các dự án được xây cất theo quyết định của  Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch Đầu tư. Tham nhũng c̣n cao. Việc sử dụng đầu tư không mấy hiệu quả v́ định hướng XHCN bảo vệ độc quyền, giúp tham nhũng. Các vụ án lớn như vụ Năm Cam hay Lă thị Kim Oanh sẽ không thể giải quyết được tham nhũng tận gốc v́ nghịch lư nằm trong kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo cơ quan PERC, VN nay đứng hạng nh́ về tham nhũng tại Á châu, chỉ sau Trung quốc mà thôi.

Việc sử dụng đầu tư không mấy hiệu quả c̣n do nạn tham nhũng đă trở thành quá phổ biến. Mặ dù  VN đă đưa ra xét xử các vụ án lớn như vụ Năm Cam hay Lă Thị Kim Oanh, nhưng xem ra cuộc chiến chống tham nhũng c̣n nhiều gian truân, v́ nghịch lư nằm trong những mâu thuẫn của chính sách kinh tế "thị trường" nhưng lại  "định hướng XHCN".

Ở VN c̣n rất nhiều mâu thuẫn giữa chủ trương chính sách với việc làm thực tế. Chẳng hạn, nhà nước đề ra chủ trương đầu tư vào những ngành kinh tế hướng xuất khẩu, nhưng thực tế trong 20 ngành được đầu tư th́ chỉ có hai ngành: chế biến thuỷ sản và may mặc là nhằm xuất khẩu. Các ngành khác: xi măng, thép, v.v... chỉ đáp ứng cho thị trường nội địa. Nguyên nhân là do hệ thống chính sách và cách làm của VN. Xu hướng độc quyền và bảo hộ các DNNN c̣n cao và cơ chế xin-cho c̣n rất nặng nề.

Từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời năm 2000 nay đă có 120.000 DN ở VN trong đó có 2500 DN nước ngoài. Khu vực tư nhân nay đă gây 90% công việc làm cho các thành thị và huy động trên $ 10 tỷ tiết kiệm nội địa. Khu vực tư này đă tăng trưởng 14% cho nên đă trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế VN. Theo WB, khu vực tư giúp giảm nạn thất nghiệp và nâng khả năng tiêu thụ của dân chúng lên 11.7%. Khu vực tư dùng dưới 20 công nhân, vốn đầu tư dưới $ 100.000 đôla sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong cuộc cạnh tranh với các nước ASEAN khi Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) được áp dụng đầy đủ tại Việt Nam vào năm 2006 và nhất là khi VN được gia nhập WTO. 

Khả năng cạnh tranh của kinh tế VN c̣n thấp một phần c̣n v́ các thủ tục hành chính quan liêu - rườm rà. Ví dụ, cảng containeur của TP Saigon đă có thể giảm 2/3 giá được v́ có thêm máy móc, nhưng các thủ tục hải quan c̣n đ̣i hỏi nhiều giấy tờ. Ví dụ khác là dân cần đất để sản xuất trong khi các nông, lâm trường quản tới 1/6 diện tích đất tự nhiên mà sử dụng chưa có hiệu quả. Pháp chế về kinh tế c̣n thấp như việc phá sản và bán các tài sản thế chấp c̣n thấp.  

 

Thách thức cho tương lai

 

Các mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN đă làm chậm sự tăng trưởng v́ nhiều tiêu cực trong việc quản lư các DNNN. Khu vực này thường xuyên trong t́nh trạng "lỗ thật lăi giả" nhưng vẫn được rót ngân sách hay ngân hàng cho vay. Việc này đă làm cho các món nợ xấu tăng trong khu vực ngân hàng.

 

Định hướng XHCN không cho phép phát huy được hết khả năng của các thành phần kinh tế. Chủ trương đầu tư vào các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu cũng là do các chính sách kinh tế c̣n nặng tính duy ư chí và do chính trị chủ đạo, không có tính chất cạnh tranh cao và bất chấp phí tổn kinh tế. Dân nghèo vẫn là những người thiệt tḥi nhất khi mà VN c̣n ở mức nghèo nhất trong các nước thuộc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái B́nh Dương (APEC) và đứng hàng gần chót so trong các nước ASEAN.

 

Cơ chế và bộ máy hành chính quan liêu cồng kềnh ngăn cản tốc độ cải cách ở VN. Chẳng hạn, VN muốn xúc tiến nhanh các thủ tục xin gia nhập WTO và đặt ra mục tiêu gia nhập tổ chức này vào năm 2005. Tuy nhiên, các luật kinh tế của VN c̣n nhiều điểm "vênh" với các qui định của WTO. Phải đến năm 2007 Quốc hội VN mới có thể sửa xong các điểm "vênh" này với sự trợ giúp của các chuyên gia đến từ WTO. Đây là một trong những thách thức lớn trong thời gian tới của VN.

 

Kết luận

 

VN đă đạt tỉ lệ tăng trưởng tốt trong 2003. Nhưng  con số tăng thực chất c̣n thấp do chính sách định hướng XHCN chưa phát huy được hết  khả năng của mọi thành phần kinh tế của đất nước. Với mức tăng truởng $ 4 tỷ thêm vào GDP trong năm 2003 nghĩa là trung b́nh mỗi người chỉ đóng góp $ 50 cho kinh tế VN (4 tỷ chia cho 80 triệu dân), trong khi đó mỗi người Thái đóng góp $ 185 (12 tỷ chia cho 65 triệu dân).

 

Năm 2004 được dự báo là năm tương lai sáng sủa hơn ở Á châu do các nền kinh tế đầu tàu như Mỹ, EU và Nhật bản có khả năng duy tŕ nhịp độ tăng trưởng kinh tế tốt hơn năm vừa qua. Bên cạnh đó, một số nước đầu tư đă có ư không muốn đầu tư thêm vào Trung quốc, nước mấy năm vừa qua đă rất thành công trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài. Trong t́nh huống mới, VN có thể khéo léo thu hút đầu tư vào ḿnh rồi từ đó phát triển sản xuất và đưa đất nước tiến lên hay không? Tất cả c̣n phụ thuộc vào tốc độ và ư chí cải cách của các nhà lănh đạo ở VN.♣