|
VIỆT NAM LÀM G̀
KHI KINH TẾ NHẬT TĂNG TRƯỞNG?
TS
HOÀNG QUẾ
Kinh tế Nhật đă
có nhiều dấu hiệu tốt
Mặc dù hiện nay Nhật chưa
hoàn toàn thoát khỏi t́nh trạng suy thoái kinh tế diễn ra tại nước này từ
1989. Tại Nhật, ít khi chính phủ cho các doanh nghiệp (DN) phá sản và v́
thế kinh tế tiếp tục tŕ trệ. Các DN không làm ăn khấm khá lên được,
lương bổng cũng không được cải thiện khiến cho dân chúng phải dè xẻn khi
tiêu tiền. Các DN nợ ngân hàng rất nhiều, ảnh hưởng xấu đến khu vực tài
chính tại Nhật và chính phủ phải cố kích thích kinh tế qua các chương
tŕnh xây dựng hạ tầng.
TT Nhật Junichiro Koizumi
được bầu lên v́ hứa hẹn thay đổi cơ cấu kinh tế giúp cho Nhật tái tăng
trưởng. Từ 2001 đến nay, Nội các Koizumi chỉ đưa ra những cố gắng nửa vời.
Cơ quan
“Cải
cách Tái thiết Công nghiệp”
đă ra đời muộn màng. Bộ Trưởng Tài chính Heizo Takenaka và Thống Đốc (TĐ)
Ngân hàng Trung ương Nhật (BOJ) Toshihiko Fukui gặp nhiều khó khăn trong
vấn đề phối hợp vạch chính sách kinh tế và tiền tệ. TĐ Fukui đă thực thi
chính sách nới lỏng tiền tệ giúp một số DN giải quyết nợ xấu và nhờ thế
thị trường chứng khoán bắt đầu tăng trưởng.
Năm ngoái các con số thống kê
cho thấy những dấu hiệu đáng khích lệ, lần đầu tiên sau 13 năm GDP tăng,
riêng quí IV tăng 7%, mức tăng cao trong các nước G7 và điều này làm cho
mọi người ngạc nhiên. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng 7% sẽ khó có thể duy
tŕ lâu dài. Mặc dầu vậy, đây vẫn là một điềm tốt cho kinh tế Nhật.
Xuât khẩu của Nhật năm ngoái
đă tăng 17.9% so với năm trước và đầu tư cũng tăng giúp tạo ra một bầu
không khí lạc quan trong các gia đ́nh. Tivi màn h́nh phẳng, đầu DVD, điện
thoại cầm tay bán chạy như tôm tươi. Đầu tư của các DN tăng 5.1% và lần
đầu tiên sau nhiều năm tỷ lệ thất nghiệp dưới 5%.
Nhưng các sự kiện này cũng
không che dấu được sự thật là, trong năm 2003 lương thực tế giảm. T́nh
trạng giảm phát đă ảnh hưởng đến các khu vực sản xuất máy vi tính, xe hơi,
điện thoại di động. Thực tế trong năm 2003 giá cả chỉ giảm 0.1%. Theo Bộ
trưởng Tài chính Heizo Takenaka th́ kinh tế Nhật c̣n nhiều dấu hiệu “giảm
phát”.
V́ kinh tế chỉ mới bắt đầu
tăng trưởng nên Nhật rất nhậy cảm trong vấn đề hối suất. Nếu hối suất
đồng Yen lên quá cao so với đồng đôla Mỹ th́ sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng.
Thực tế, năm 2003, đồng Yen đă lên giá 10% so với đồng đôla nhưng chưa
thấy có ảnh hưởng xấu đối với cán cân thương mại của Nhật.
Theo các chuyên gia kinh tế
Mỹ th́ giá trị đồng USD tuỳ thuộc vào
“cung
và cầu.”
Khi có bội chi ngân sách hay nhập siêu, cán cân thương mại Mỹ cao, đồng
USD sẽ mất giá. Hơn nữa, chính phủ Mỹ không mấy hồ hởi để can thiệp giữ
hối suất đồng đôla ở mức cao.
V́ vậy, có nhiều dấu hiệu cho
thấy là Ngân hàng Trung ương Nhật (BOJ) đă tiếp tục bơm thêm tiền vào hệ
thống kinh tế và TĐ Fukui hứa sẽ có chính sách chống giảm phát. Ông đă
bày tỏ lo ngại hối suất đồng Yen lên quá cao làm cho hàng Nhật khó cạnh
tranh trên thị trường quốc tế, cho nên ông đă quyết định cho mua $ 175 tỷ
công khố phiếu Mỹ trong 2003 và $ 67 tỷ trong năm 2004 để kiềm chế hối
suất đồng Yen lên quá cao so với USD.
Nếu hàng Nhật có thể tiếp tục
xuất khẩu qua Mỹ và Trung quốc khi hai nước này tiếp tục tăng trưởng, kinh
tế Nhật sẽ tốt lên. Khi hối suất đồng Yen quá cao sẽ giúp tăng nhập khẩu
và kết quả là giá hàng tại Nhật đă xuống trung b́nh 4.4% trong 2003. Theo
các doanh nhân Nhật, nếu hối suất giữa đồng Yen và đồng đôla Mỹ ở mức 1
đôla Mỹ ăn 105 Yen th́ các nhà xuất khẩu Nhật không có lư do phải lo ngại.
Mặt tốt khác là tăng trưởng kinh tế của Nhật khá đồng đều trên mọi lĩnh
vực.
Nói tóm lại, tuy tăng
trưởng Nhật chưa vững bền, nhưng đă có nhiều dấu hiệu lạc quan, có nhiều
cơ hội giúp Nhật tiếp tục tăng trưởng để đảm đương nhiệm vụ làm đầu tàu
kéo kinh tế nhiều nước Á châu khác lên.
Nhật cố giành
ảnh hưởng ở Đông Nam
Á trong cuộc chạy đua với Trung quốc
Những năm gần đây cả Trung
quốc và Nhật bản đều cố gắng giành ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á, đặc
biệt là ảnh hưởng về kinh tế. Việc Trung quốc tăng cường sử dụng các yếu
tố kinh tế, đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm khiến
Nhật bản lo ngại và buộc phải tăng tốc trong cuộc chạy đua này.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN - Nhật diễn ra tại Tokyo trong hai ngày 11 - 12/12/2003, Nhật bày tỏ
muốn thiết lập khu vực mậu dịch tư do (FTA) với ASEAN và trước mắt sẽ xúc
tiến đàm phán về các FTA với 3 nước thành viên ASEAN là Tháilan, Malaysia
và Philippines.
Từ 1995-2001, Nhật là nước
cung cấp đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) chủ yếu tại các nước ASEAN.
Trong năm 2002, Nhật là đối tác thương mại đứng thứ hai của ASEAN, chỉ sau
Mỹ. Trong năm 2001, Nhật đă dành 1/3 viện trợ phát triển (ODA), tức $ 2.1
tỉ cho ASEAN. Trong thời gian xảy ra khủng hoảng kinh tế ở Á châu, Nhật
đă bỏ ra $ 80 tỉ để trợ giúp các nước này.
Để giành lại thế thượng phong
trong khu vực ĐNA, Nhật cam kết viện trợ trên $ 3 tỷ cho ASEAN, trong đó $
1.5 tỷ sẽ được dùng để hỗ trợ đào tạo nhân sự và có kế hoạch đón nhận trên
10.000 sinh viên và thanh niên ASEAN trong thời gian 5 năm tới.
Quan hệ
Việt-Nhật
VN vừa kư với Nhật một Hiệp
ước bảo hộ đầu tư mà đến nay Nhật chỉ mới kư với 11 nước. Nhật là nước
cung cấp viện trợ ODA lớn nhất cho VN, là nước đầu tư lớn thứ 3 tại VN và
bạn hàng lớn nhất của VN về hàng xuất khẩu.
Nhật muốn tranh thủ VN để
giành thị trường, giành ảnh hưởng. Tuy vậy, Nhật cũng nhận thức
rằng VN vẫn là một nước XHCN cho nên việc thay đổi tư duy rất chậm, không
có khả năng giải ngân ODA của Nhật một cách nhanh chóng và do đó đối với
Nhật, VN chỉ được ở hàng ưu tiên thứ hai trong khối ASEAN.
Nhật đă viện trợ rất nhiều
cho VN và gởi nhiều chuyên gia qua giúp VN. Tờ Thời báo Kinh tế ngày
20/2/2004 đăng bài trả lời phỏng vấn GS. Kenichi Ohno, thuộc Viện nghiên
cứu Chính sách quốc gia Nhật bản, trong đó ông cho rằng VN có nhiều cơ hội
phát triển nhưng thay đổi quá chậm chạp. GS Ohno kể lại rằng, khi ông đến
VN vào năm 1995, lúc đó đề tài tranh căi tại VN là chiến lược phát triển
công nghiệp. Một phe cho rằng phải tiếp tục coi Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)
là "xương sống" của quá tŕnh phát triển công nghiệp và các DNNN này phải
sản xuất các sản phẩm đầu vào cho công nghiệp. Trong khi đó, một nhóm khác
cho rằng, nên để cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước làm đầu tàu phát
triển công nghiệp.
GS Ohno ngạc nhiên là sau
từng ấy năm trời, các quan chức chính phủ VN vẫn c̣n đang tiếp tục tranh
căi về vấn đề này. Theo ông, tiến tŕnh nhận thức và học hỏi về cạnh
tranh quốc tế và toàn cầu hoá của VN diễn ra quá chậm chạp!
Các nhà đầu tư Nhật cũng than
phiền về các chính sách đầu tư của VN, kể cả chính sách nhập các bộ phận
xe gắn máy hay các bộ phận kinh doanh của ngành lắp ráp xe, vv. chưa nhất
quán. Nhật cũng khuyến cáo VN cần phải đẩy mạnh cải cách, nhất là cải cách
hành chính để giảm bớt tệ nạn quan liêu, dỡ bỏ các trở ngại trong thủ tục
giấy tờ, tạo một môi trường đầu tư lành mạnh và thuận lợi. Như vậy mới
mong thu hút đầu tư, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển và tạo dựng một vị
thế cao hơn trên chính trường quốc tế.
Kết luận
Năm nay kinh tế Nhật đang
tăng trưởng trở lại, tiêu thụ của dân chúng gia tăng, hối suất tăng. VN
có thể lợi dụng cơ hội này để đẩy mạnh xuất khẩu qua Nhật. Tại ĐNA, Nhật
có nhiều điểm lợi: viện trợ ODA và FDI cao và có kỹ thuật tiên tiến. Các
doanh nghiệp Nhật đầu tư khá nhiều tại Á châu v́ muốn tận dụng nguồn nhân
công rẻ ở khu vực này.
Trong khi nhiều nước thành
viên ASEAN đă có chính sách khôn khéo để lợi dụng cơ hội, kéo đầu tư và kỹ
thuật Nhật về ḿnh th́ VN cũng cần phải
“mau
tay lẹ chân”
giành lấy cơ hội tốt tăng xuất khẩu và kéo đầu tư về ḿnh, nhất là khi đă
có Hiệp ước bảo vệ đầu tư với Nhật.♣
Trích trong:
Mục
Thời sự, Báo điện tử
của
Tạp chí Dân chủ & Phát triển:
www.dcvapt.org
|