|
BÀI CỦA ĐỘC GIẢ TỪ TRONG NỨƠC
Luận bàn thời cuộc
HAI PHÁN
LTG: Thời này là mạt kiếp.
Không ai dạy dỗ ai. Chỉ có tranh nhau
miếng ăn, chỗ ngồi, hội đủ những điều nghịch tặc: Bất trung, bất nghĩa,
bất hiếu và bất nhân. Nhưng, “biển khổ mênh mang, quay đầu thấy bến” (Đạo
Phật).
“Sự kiện là cơ sở, nền móng
Trí tưởng tượng là vật liệu xây dựng
Giả thiết là kế hoạch cần nghiên cứu
Chân lư là Toà nhà” (PÁP LỐP)
“Nếu ta dùng súng lục bắn vào hiện
tại th́ tương lai sẽ nă đại bác vào ta.”
Vâng, chúng ta sẽ luận bàn thời cuộc
từ đâu và như thế nào đây?
Thưa quư vị,
Nói đến cái thời kinh tế thị trường
này, Hai Phán tôi thấy có quá nhiều điều suy ngẫm. Từ cái chuyện buôn
thúng bán bưng, vỉa hè, tranh giành khách khứa, rồi đến chốn quan trường,
t́nh bạn, vợ-chồng, t́nh cha con, …. đều đảo lộn rất nhiều, rất nhiều. Sự
phát triển của đất nước ta sẽ như nào đây?
1- Ư thức hệ:
* Từ lịch sử Hoàng thành.
Chuyện về những di chỉ ban đầu từ
khai quật Hoàng Thành Thăng Long cho thấy đất Hà nội hôm nay có lịch sử
trên 1.300 năm. Các nhà khảo cổ lên tiếng xác nhận chính xác về lịch sử Hà
Nội trong thời gian tới. Chỉ tiếc những di chỉ c̣n sót lại cho ta thấy một
Hà Nội chỉ có … lịch sử cỡ 1000 năm?!
* Đến lịch sử mới đây.
Thế hệ sinh ra sau năm 1975 hầu như
chiến tranh là quá khứ và được tô vẽ bởi các sách giáo khoa xuất bản qua
từng năm. Nhưng có mấy điều đă bị sai nhiều quá. Đầu tiên là “năm
anh em” trên chiếc xe tăng đâm đổ cổng Dinh Độc Lập ngày
30/04/1975. Năm anh em về địa phương, là những nhân chứng cũng đồng thời
là những người viết lên lịch sử. Họ âm thầm sống, đến nay đă được lịch sử,
nhân dân “đèn trời soi xét” đúng sai. Những người đó mới
tuyệt vời làm sao! Chỉ tiếc những người không phải là năm anh em, vẫn “ngộ
nhận”, vẫn không dám từ chối hay bác bỏ những việc mà ḿnh không làm. Rồi
lại phải viết lại sách giáo khoa v́ một thế hệ khoảng 25 năm đă phải học
những điều không đúng.
Xa hơn một chút là lúc Bác Hồ qua
đời. Tại sao người ta phải dấu ngày mất của Bác. Cho dù được lư giải là
chiến tranh, nhưng mà tại sao, ngay sau chiến tranh kết thúc, chúng ta
không sửa lại điều đó đi, cũng như chưa bao giờ công bố đầy đủ di chúc của
Bác. V́ thế ngày nay, c̣n không biết bao nhiêu người được “lợi” từ sự việc
này. Không biết họ có “lương tâm” hay nghĩ ǵ không? Hay đơn
giản là “sự xấu hổ” không bao giờ tồn tại.
Và gần đây nhất, có lẽ sách giáo khoa
sẽ lại phải viết lại, khi mục Nam Quan không c̣n cũng như thác Bản Giốc đă
bị chia nửa theo hiệp định biên giới trên bộ kư với Trung Quốc. Có lẽ
những điều hôm nay được nói ra, đúng hay sai sẽ do lịch sử nhân dân phán
xét. Thế hệ này chưa xem xét, th́ c̣n có những thế hệ sau, một trăm năm,
hai trăm năm hoặc lâu hơn. Nhưng chắc chắn sẽ có người xem xét.
* Rồi chuyện thơ ca.
Phùng Quán, Vũ Hoàng Chương, Hoàng
Cầm …. một thời tiếng thơ bị coi là lạc lơng. Nhưng rồi hôm nay, công
chúng cũng phải thừa nhận những tài năng đích thực, những áng thơ hay đă
phản ánh đúng nỗi niềm, cuộc sống của mọi người. “Sau chiến tranh
chỉ có cuộc sống là tiếp tục” (Nguyễn Trăi). Mỗi thời mỗi
khác, những vần thơ đặc sánh kiểu sản xuất đặt hàng, báo chí tuyên truyền
của nhiều nhà thơ, nhà văn rút cuộc chỉ …. thích hợp cho hô hào khẩu hiệu
của một số nhóm người làm chính trị. Thời gian qua đi, cũng chính những ai
đam mê đều ngộ ra. Ngàn năm bia miệng lưu truyền th́ không ai là không
biết. Vâng, lịch sử là nhân dân mà!
* Và … những chuyện lạ:
Hiếm khi mà Trung ương Đảng, Bộ Chính
trị có nhiều cuộc họp, tranh luận về từng đường lối phát triển của đất nước
như thế. Kết quả và hiệu quả của những Nghị quyết chúng ta đă đang và sẽ
chiêm nghiệm. Nhiều cán bộ Lănh đạo lăo thành lên tiếng hay, dở, sự dối
trá cũng như sự tham nhũng, không thành thật của nhiều cán bộ đảng viên
đương quyền. Do đó, phải chăng trong Đảng hiện nay có “vấn đề” thật sự về
tổ chức và xây dựng Đảng?
2- Những vấn đề phát triển:
Những điều cần khẳng định là cơ sở lư
luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp.
2.1. Vấn đề quy hoạch thủ đô.
Thông thường tầm nh́n phát triển của
một thành phố phải từ 50-100 năm. Nhưng ai dám làm? Dám lập ra cũng như
sẵn sàng chịu trách nhiệm?
Hăy khoan nói về năng lực dự báo xu
thế phát triển, quy hoạch phát triển của Hà Nội của các cơ quan, cá nhân
được phân công mà nghịch lư thay, Hà Nội lại tập trung rất rất nhiều các
nhà khoa học, chuyên môn sâu về những vấn đề này. Nhưng rất ít khi thấy họ
lên tiếng bởi v́ có quá nhiều chuyện đă rồi, th́ mới cho các nhà khoa học
biết như cầu phao qua sông Hồng, sân vận động trung tâm khu liên hợp thể
thao Mỹ Đ́nh, …. hay đơn giản chuyện đặt tên phố, tên đường mà thôi.
“Nhưng tôi phản cảm khi thấy những
nhà quản lư chỉ quan tâm đến việc làm sao cho nó có giá trị mà không hề
quan tâm đến việc để nó có giá trị th́ phải làm ǵ. Hơn đâu hết, người ta
thấy ứng xử với khu phố cổ Hà Nội này cho đến giờ vẫn là nói một đằng làm
một nẻo. Ví như kêu gọi sự bảo tồn nhưng vẫn cấp phép cho sự làm biến dạng.
Do vậy, tốt nhất là phải bắt đầu từ cái đầu chứ không phải từ cái đầu tiên”
(Đại biểu quốc hội, nhà sử học Dương Trung Quốc khi nói về phố cổ Hà
Nội trong cuộc phỏng vấn trên mạng VietnamNet)
Các quyết định đưa ra dẫn đến cái
ṿng luẩn quẩn của việc: quy hoạch
à
phá quy hoạch à
lập quy hoạch mới
à
giải quyết sự vụ
à
đổ lỗi cho chính sách chính phủ
à
lăng phí và phá hoại tiền của Nhà nước và Nhân dân.
2.2. Vấn nạn sợ trách nhiệm
Một khi cơ chế kinh tế lại vừa đóng,
vửa mở, tập mờ rất nhiều th́ vấn nạn sợ trách nhiệm là đương nhiên. Tôi
nhớ có chị nhà văn nói về nỗi “bất hạnh” của người dân v́ được
sinh ra trong nỗi “sợ hăi”. Cũng đơn giản thôi. Hôm nay là
kinh tế thị trường. Là mưu cầu sống và kiếm tiền. Là sự tranh giành quyền
lợi, mưu sinh. Những chuyện đó thôi đă hội đủ yếu tố: bất nhân, bất nghĩa,
bất trung, bất hiếu. Chỉ có cái miệng là dẻo kẹo mà thôi. Từ ông doanh
nghiệp nhỏ tí cũng đă phải làm luật để tồn tại, đến những dự án lớn lao mà
rất nhiều người hoài nghi ví dụ như ai đó kư vào th́ không biết có … quang
minh lỗi lạc không?!?. V́ tranh giành miếng ăn, nên sợ mất ghế là phải.
Mất chức th́ là hết. Nên có nhiều nỗi sợ hăi thật “vô lối” hết sức, v.v và
v.v.
2.3. Trí c̣n sức kiệt
Tôi cũng muốn nói đến một thế hệ các
bác, chú, cô, các cha anh qua thời chiến tranh, đă từng công tác và nay đă
nghỉ hưu. Không biết có được đến 1% những kiến nghị của các bác, cô, chú
và cha anh có được những người đương chức, đương quyền xem xét và giải quyết
không? Chúng ta đă chờ rất nhiều năm, th́ nay c̣n chờ ǵ nữa?
2.4. Ăn bẩn
Khi mô h́nh kinh tế được xây dựng,
lắp đặt, vận hành trên những tập mờ của cơ chế thị trường th́ việc ăn bẩn
xảy ra mọi lúc, mọi nơi. Các quan chức to th́ làm thuê, hưởng lương của
mafia, tài phiệt (như vụ án Năm Cam), rồi các quan chức nhỏ hơn th́ kiếm
ăn từ hiệu quả của doanh nghiệp (thanh tra, kiểm tra, hành doanh nghiệp).
Vụ quota dệt may, rất nhiều quan chức biết rơ nội t́nh. Vụ buôn bán điện
thoại nhập lậu Đông Nam, Hải quan, Thuế biết rơ, nhưng chẳng qua là “cuộc
chiến của các đại gia” mà thôi, v.v.
2.5. Sự nhẫn tâm và tàn bạo
“Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”
(Tục ngữ Việt Nam). Đành
rằng những tên tội phạm ma tuư cần phải xử lư, nhưng trớ trêu thay, ngay
tại các nơi cải tạo, chúng vẫn có thể mua được thuốc để dùng. Quá buồn khi
đa phần sau cai nghiện, các con nghiện …. đều tái nghiện cũng như đây là điều
không thể. Rồi chuyện ăn tiền của đồng bào bị băo lụt, từ các dự án xoá đói
giảm nghèo 135, v.v.v Quả thật đó là những điều nhẫn tâm, tàn bạo của
những ai có trách nhiệm trong một số việc được phân công của xă hội ngày
hôm nay. Điển h́nh ư? Không, thực tế nhiều lắm, không kể hết. Sự lộn xộn,
mất trật tự, buông xuôi trong quản lư xảy ra nhiều nơi và nhiều cấp. Đồng
tiền vẫn được gọi là Đồng “bạc” mà sao lắm “ma quái” thế
2.6. Sự lúng túng về lư luận và thực
tiễn giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xă hội
Hàng tá cuốn sách, các bài phân tích
lư luận và thực tiễn về kimh tế thị trường định hướng XHCN
tại Việt nam xuất bản, đăng trên báo và tạp chí. Bản chất kinh tế th́ hiện
đang chuyển sang mô h́nh tư bản nhưng cái khó của những người làm chính
sách là làm sao để vẫn có những mác, tên kêu của CNXH mang mầu sắc Việt
Nam.
- Trước hết đó là sự tranh luận:
“Có phát triển th́ phải có tranh luận, mà trong tranh luận không có
nỗi sợ hăi, không thể không có sự đúng sai và phân hoá trong suy nghĩ và
hành động” (Hà Lê Huy Toàn). Sự lúng túng thể hiện về bản
chất vấn đề. Ai đó sợ nêu ra một đề tài. Sự nghèo nàn chủ đề luận bàn dẫn
đến tệ nạn ăn cắp xảy ra. Từ lĩnh vực nghệ thuật (đă xảy ra sao chép nhạc)
đến giáo dục đào tạo (đă xảy ra sao chép luận án tiến sĩ), tệ nạn bằng
giả, đến giao thông, xây dựng (ăn cắp từ các công tŕnh, con đường chưa
hoàn thành xong đă lún sụt, hỏng) rồi đơn giản nhất là ăn cắp thời gian,
làm vật vờ, hiệu quả quá thấp, v.v. Nói chung xảy ra khắp nơi. Chú trọng
h́nh thức dẫn đến chạy theo thành tích, báo cáo láo, nói dối cấp dưới, cấp
trên, hứa nhiều nhưng chẳng làm được bao nhiêu, v.v.v.
- Vấn đề sở hữu:
Chúng ta nói đến sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng. Vấn
đề nhận thức và xử lư những tồn tại liên quan này đă dẫn đến sự “ra
đi” của “tỷ phú” Tăng Minh Phụng, và mới đây là trường hợp công ty
“Phú Mỹ Hưng” và rất nhiều các công ty phát triển hạ tầng, địa ốc v.v và
v.v. Khi đă là kinh tế thị trường, th́ sự lúng túng thể hiện có quá nhiều
“tập mờ” trong thực hiện. Có nhiều việc khi thực hiện nghe
rất khôi hài, ví dụ như luật phải …. không được làm trái (hoặc vênh) so
với pháp lệnh, v.v và v.v ?!?
- Vấn đề bóc lột:
Sự lúng túng cũng này sinh từ đây. Làm giàu là vinh quang hay làm giàu là
bóc lột? Hiện nay, không ai dám đưa vấn đề này lên báo chí. V́ nếu là bóc
lột, th́ mâu thuẫn tôn chỉ của chủ nghĩa xă hội. C̣n nếu là vinh quang,
th́ vô h́nh đă tự nhận là chủ nghĩa tư bản. Mâu thuẫn đó dẫn đến những
việc làm được (theo luật) cũng như những việc vẫn …. làm được (mà luật lại
cấm). Nói chung cứ làm đi, miễn sao là ra được kết quả.
- Thái độ nửa vời, ba phải trong đối xử với
nhau
Cuộc họp Đảng nào cũng nêu ra phê b́nh và tự
phê b́nh. Bề mặt ai cũng ủng hộ. Ấy thế mà khi bỏ phiếu kín đều khác hẳn.
Tôi cho rằng hiện tượng này là phổ biến, những người ngay th́ ít mà những
kẻ ba phải, cơ hội th́ có quá nhiều, “Thạch Sanh th́ ít mà Lư thông
th́ nhiều” (Ngạn ngữ Việt Nam).
- Những kẻ nghiêng ngả
(lời của ông Hữu Thọ - Trợ lư Tổng Bí Thư), chưa học làm người, đạo
làm con, làm dân tốt … đă nhanh chóng biến thành “ông quan”. Xa hoa, lăng
phí, hư vinh thói đời v.v. là chuyện đương nhiên xảy ra. Ăn tiêu một bữa
bằng cả một đời người lao động kiếm sống. Đi lại vui chơi c̣n quá những tỉ
phú thế giới, v.v.v.
2.7. Kinh tế phi thị trường.
Tất cả những điều nêu ra chỉ là biểu hiện của
bản chất phi thị trường, sự cảnh báo về những biến cố của đất nước được dự
báo là có thể sẽ xảy ra. Xét theo triết học th́ sự thay đổi về lượng tất
sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất.
Nền kinh tế Việt Nam bị Bộ Thương Mại Mỹ xếp
vào phi thị trường là theo các tiêu chí sau:
1. Giá trị của sản phẩm không thể được đo lường
bằng giá cả và phí tổn một cách trung thực v́ những can thiệp của Nhà nước.
2. Đồng Việt Nam không thể chuyển đổi sang
ngoại tệ một cách dễ dàng. Nhà nước đặt nhiều luật lệ nhằm giới hạn việc
sử dụng, chuyển đổi đồng Việt Nam và tỷ giá, lăi suất.
3. Đă có luật đầu tư thể hiện việc Nhà nước
khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng Chính Phủ vẫn tiếp tục đặt
ra những “lệ” để hướng dẫn và kiểm soát đầu tư.
4. Mặc dù phần lớn giá cả được tự do hơn, nhưng
Ban Vật Giá chính phủ vẫn duy tŕ việc kiểm soát giá cả ở ngoài những khu
vực độc quyền tự nhiên.
5. Việc tư nhân
hóa, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng tiến hành rất chậm
chạp. Do đó tư nhân không thể cạnh tranh với khu vực DNNN về các nguồn
tài chính.
6. Tư nhân không có quyền sở hữu đất đai. Nhà
nước không có dự định tư nhân hóa đất đai trong tương lai.
(Nguyễn Quốc Khải - Đại học John Hopkins Mỹ)
Căn cứ theo những tiêu chí đó, có thể nói,
chúng ta buộc phải thừa nhận có sự can thiệp của Nhà nước ít nhiều vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Và họ sẽ tiếp tục xếp
chúng ta và trừng phạt chúng ta vào những điều luật lệ của Mỹ. Chúng ta sẽ
không thể bao giờ thắng kiện được với họ.
Việc tồn tại song song ba Luật doanh nghiệp (doanh
nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài);
đặc biệt là cơ chế cấp chủ quản như: Xin phê duyệt dự án đầu tư, quy hoạch
và bổ nhiểm cán bộ. Nhưng cơ chể này đă thực sự bất cập, bộc lộ sự lúng
túng khi những vụ án tham nhũng Lă Thị Kim Oanh, sự nợ nần mất khả năng
thanh toán rất lớn của TCT Xây dựng Công tŕnh giao thông 5 với những bảo
lănh, xác nhận , v.v.v của các bộ chủ quản. Và “Ngân hàng nào đi tin
vào điều đó, cho vay …. trên cơ sở những giấy tờ đó … th́ các Ngân hàng tự
đi mà chịu trách nhiệm giải quyết (đó là lời của ông Lê Đức
Thuư, Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước khi nói với báo giới)
Tất cả những bản chất đó, đều được báo chí ghi
chép.
3- Mưu lược cho phát triển
3.1. Quan điểm phát triển
Tương lai phải tốt đẹp. Nhưng đừng để xây th́
ít mà phá th́ nhiều. Quá khứ chúng ta đă trả bằng máu và sự tụt hậu rất
nhiều. Bản chất phải là sự giàu có của nền kinh tế, là dân giàu nước mạnh.
Không để sự nghèo đói của dân lại xuất phát
ngay từ những quyết định có từ hôm nay.
3.2. Sự thách thức
Thứ kết quả biện minh cho hành động đă lên ngôi.
"Tuyên bố" của Hít-le năm 1939 khi ngang nhiên nói: Trên đời này không có
chân lư, chân lư thuộc về kẻ mạnh, đă mở màn cho chiến tranh thế giới thứ
II. Và gần đây là năm 1999, khi nổ ra cuộc chiến Kosovo, th́ Tổng thống
Pháp Jacques Chirac đă cảnh báo về "luật của kẻ mạnh". C̣n cuộc chiến IRAQ
đă xảy ra khi Mỹ hành động mà chẳng cần Liên hợp quốc cho phép.
Chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn. Cuộc chiến tranh
này đi qua, cuộc chiến tranh khác lại kéo đến, nguyên tắc của cuộc chơi.
Những thực thể bao gồm các quốc gia và các công ty đa quốc gia có liên
quan đă phải đàm đạo rất kỹ về các lợi ích của họ cho thời kỳ tiến chiến,
đang chiến và thời kỳ hậu chiến. Các nước nhỏ, nếu đứng riêng th́ tiếng
nói rất yếu. C̣n nếu có thể tập hợp lại được, th́ tiếng nói c̣n nhiều hạn
chế. Và liệu các nước lớn có "nghe" thông điệp từ nước nhỏ không? Trên
thực tế th́ các nước nhỏ lại rất dễ chia rẽ, không đồng nhất về lợi ích
quốc gia. Hậu quả là tồn tại những khoảng trống giữa các nước và các nước
lớn tự cho ḿnh là phải "gánh vác" sứ mệnh chung cũng là điều dễ hiểu.
3.3. Cơ sở lư luận
Từ đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho
thấy một mô h́nh, tư duy kiểu Trung Quốc. Mô h́nh thuyết “Ba đại diện”
được coi là một trong nhiều lối thoát về chính trị và tư duy cho các nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thuyết “Ba đại diện” là một thay đổi
quan trọng v́ nó cho phép từ bỏ học thuyết Mác-Lênin và nhờ thế Trung Quốc
đă có thể “gác lại” vấn đề xây dựng XHCN để tập trung vào việc phát triển
kinh tế.
Từ năm 1986 đến Đại hội IX của Đảng Cộng sản
Việt Nam (2001), Đảng cố gắng “t́m các giải pháp”, là “vận dụng một cách
sáng tạo” học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh cho phù hợp với một
nền kinh tế thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, tốc độ cải cách c̣n quá chậm
do nhiều lănh đạo c̣n thiếu năng lực, không năng động, chưa có tầm nh́n xa
trông rộng. Thậm chí nhiều người vẫn đặt lợi ích cá nhân lên trên tập thể,
quyền lợi của một nhóm người, nhóm lănh đạo lên trên quyền lợi của đất
nước, dân tộc.
3.4. Các biện pháp
3.4.1. Giải quyết những tồn tại, trước mắt
Thiết lập một cơ chế để xử và phát triển không
có nghĩa chúng ta xem xét lại và xoá đi hoàn toàn kết quả chúng ta đang có.
Chúng ta cũng không xét lại một loạt doanh
nghiệp hay doanh nhân sau một đêm thành tỉ phú (Tổng thống Nga Putin)
mà cái chúng ta cần là sự tôn trọng tính quy luật, là ḷng tin của nhân
dân (Nhà báo Trần Bạch Đằng), là sự lập lại trật tự trong quản lư
kinh tế, c̣n theo tôi, là một chính phủ mạnh mẽ, có tính cách đàn ông.
3.4.2. Những giải pháp lâu dài
·
Quan hệ đối ngoại: Xử lư tốt các trục ĐÔNG – TÂY – NAM - BẮC
·
Quan điểm CỰ LY GẦN
·
Thực hiện quyền “Trưng cầu dân ư” về những việc quốc kế dân sinh, theo
hiến pháp. Tránh hiện tượng xin ư kiến, về bản chất khác hoàn toàn trưng
cầu dân ư
·
Vấn đề giáo dục quốc dân. Thực hiện triệt để cải cách giáo dục từ tiểu học,
trung học cơ sở, trung học phổ thông cho đến đại học và sau đại học. Cứ
như hiện nay, theo cách hỏi, chất vấn của các đại biểu quốc hội và cách trả
lời của ông Bộ Trưởng Giáo dục, th́ h́nh như các vị hỏi và đáp đều như là
những người … ngoài cuộc của 1 nền giáo dục quốc dân.
·
Xoá bỏ cấp chủ quản doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động theo đúng một
luật doanh nghiệp chung.
·
Phân quyền dự thảo pháp luật thuộc về Quốc hội (lập pháp). Không để Chính
Phủ (hành pháp) dự thảo và hướng dẫn Luật như hiện nay.
·
Phát triển khu vực ngoài quốc doanh, tăng cường sức cạnh tranh hơn cho nền
kinh tế. Khu vực ngoài quốc doanh ít nhất chiếm 50%.
·
Xác lập và cơ cấu lại các khoản nợ sắp đáo hạn và hệ thống ngân hàng
thương mại, tránh nợ xấu quá lớn.
·
Chống tham nhũng có hiệu quả. Tham nhũng đă, đang và sẽ phá hoại nền tảng
luật pháp theo lối lệch lạc trong việc áp dụng luật lệ. Nó làm suy yếu các
định chế và cơ quan cần thiết cho phát triển, và khiến tài nguyên quốc gia
bị trút vào nơi không có lợi về kinh tế, cản trở công cuộc phát triển đất
nước. ♣
HAI PHÁN
hoàn thành trong những ngày họp Quốc hội
Hà nội, một đêm tháng 11/2004
Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:
www.dcpt.org hay
www.dcvapt.net
|