|
ĐIỂM
SÁCH
Việt-Nam Cần Đổi
Mới Thật Sự
“Chủ
nghĩa Cộng Sản là giấc mơ của một vài người,
nhưng là cơn ác mộng cho mọi người.”
Victor Hugo
Tác giả: Vơ Nhơn
Trí
Người đọc:
Nguyễn Quốc Khải
“Việt-Nam
Cần Đổi Mới Thật Sự
“
là cuốn sách mới nhất của TS Vơ Nhơn Trí viết về t́nh h́nh kinh tế và
chính trị của Việt-Nam. Sách này gồm có bốn phần là (1) ư thức hệ của
chính sách “đổi
mới”;
(2) “đổi
mới”
kinh tế, (3) “đổi
mới”
chính trị; và (4) kết luận. Trong bài phân tách sau đây, người viết sẽ đề
cập chính yếu đến phần
“đổi
mới”
kinh tế. Hi vọng một trong những chuyên gia về khoa chính trị học sẽ thảo
luận đầy đủ về phần
“đổi
mới”
chính trị của cuốn sách.
Trong cuốn
“
Việt-Nam Cần Đổi Mới Thật Sự
“
ngoài việc tóm tắt và cập nhật hóa những điều quan trọng tác giả đă nói
đến trong cuốn sách
“Vietnam's
Economic Policy Since 1975”
xuất bản cách đây 13 năm, TS Vơ Nhơn Trí c̣n đưa ra những nhận xét giá trị
về hiện t́nh của Việt-Nam trong những năm gần đây, dưới con mắt của một
kinh tế gia và đồng thời là một chuyên viên về chính trị học và một cựu
đảng viên Cộng sản. Với chuyên môn và kinh nghiệm của tác giả, hẳn những
sự phê phán của ông trong cuốn sách này phải xác thực. Ông nh́n nhận rằng
Việt-Nam đă thực hiện một số biện pháp cải tổ kinh tế. Nhưng nói chung
việc cải tổ này c̣n bị giới hạn đáng kể. Về mặt chính trị, Đảng CSVN chỉ
thực hiện một vài thay đổi có tính cách bề ngoài. Ông cho rằng cải tổ
kinh tế không tự động đưa đến cải tổ chính trị. Hiện nay sự đông lạnh về
chính trị đang cản trở việc phát triển kinh tế. Ông Vơ Nhơn Trí xác định
rằng Việt-Nam cần phải đổi mới thật sự về cả hai phương diện kinh tế và
chính trị mới có thể rửa được cái nhục tụt hậu.
Một đặc điểm của cuốn sách
“
Việt-Nam Cần Đổi Mới Thật Sự
“
là tác giả đă tham khảo rất nhiều tài liệu để dẫn chứng những điều ông
viết trong sách. Tất cả những tài liệu này đều được tác giả ghi xuất xứ
trong phần chú thích một cách rơ ràng. Mặc dù đề tài mang vẻ chuyên môn,
nhưng với một lối viết b́nh dị, và bố cục rơ ràng, tác giả đă tŕnh bày
nội dung của cuốn sách một cách mạch lạc khiến cho độc giả có thể theo dơi
dễ dàng.
Giới thiệu tác giả
TS Vơ Nhơn Trí sinh tại Sadec, học trung học tại Saigon
và Nam vang. Ông tốt nghiệp Kỹ Sư Thương mại (Grenoble, 1956), Tiến sĩ
Luật tại Pháp (Grenoble, 1955) và Tiến sĩ Kinh tế tại Anh (Birmingham,
1957). Từ Paris ông trở về Hà-nội vào năm 1960 và làm việc tại Viện Kinh
tế ở Hà-nội trong khoảng thời gian 1960-1975 và Viện Khoa học Xă hội ở
thành phố Hồ Chí Minh, 1976-1984. Sau đó ông Vơ Nhơn Trí dời Việt-Nam qua
Pháp. Từ năm 1985-1991 ông làm công việc nghiên cứu kinh tế tại Institute
of Development Studies (Sussex, Anh quốc), Institute of Developing
Economies (Tokyo, Nhật Bản), Institute of Southeast Asian Studies
(Singapore), Australian National University (Canberra, Úc), và Centre
National de Recherche Scientifique (Paris, Pháp).
TS Vơ Nhơn Trí đă viết rất nhiều bài nghiên cứu về Việt-Nam.
Hầu hết những bài này đă được đăng trên các tạp chí chuyên môn. Ngoài ra
ông c̣n là tác giả của một số sách về kinh tế và chính trị sau đây:
* Croissance Eùconomique De La République Démocratique Du
Vietnam, 1945-1965, Hanoi: 1967.
* Vietnam: The Third Five-Year Plan 1981-1985,
Performance And Limits, No. 4, Indochina report (special issue), October -
December 1985, Singapore: 1985.
* Socialist Vietnam's Economy, 1975- 1985. An
Assessment, Monograph V.R. F. series. No. 139, Institute of Developing
Economies, Tokyo: January 1987.
* Vietnam's Economic Policy Since 1975, Institute of
Southeast Asian Studies, Singapore: 1990.
*Việt-Nam Cần Đổi Mới Thật Sự, nhà xuất bản Đông Á,
Vancouver, Canada: 2003.
Ông Vơ Nhơn Trí gia nhập Đảng Cộng sản Pháp vào năm
1952 và Đảng Cộng sản Việt-Nam vào năm 1961. Cũng như nhiều người khác, v́
tin tưởng rằng chủ thuyết Cộng sản sẽ mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc
cho dân tộc, ông Vơ Nhơn Trí sau khi tốt nghiệp tại Pháp và Anh quốc vào
năm 1960, đă từ bỏ miền Nam và chọn lựa miền Bắc để trở về phục vụ đất
nước dưới chế độ Cộng sản. Ông tâm sự rằng ngay trong những ngày đầu trở
lại quê hương ông đă nh́n thấy ngay sự thật và đă thất vọng và đau đớn v́
bị chế độ phản bội. Sau khi dự Hội nghị Kinh tế gia tại Budapest và ghé
thăm Paris vào năm 1974, khi trở về Hà-nội ông Vơ Nhơn Trí bắt đầu bị theo
dơi v́ thái độ chống đối chế độ của ông ở hải ngoại. Do đó ông t́m cách
lần lượt đưa con gái và vợ qua Pháp trước.
Vào năm 1980 ông bị CSVN bắt giam v́ ba tội: t́nh nghi
vượt biên (khi ông về thăm miền Hậu giang), gia đ́nh ở lại nước ngoài bất
hợp pháp, và không làm việc hăng say như trước nữa. Ngay sau đó ông Vơ
Nhơn Trí đă từ bỏ Đảng CSVN và xin qua Pháp để đoàn tụ gia đ́nh. Nhờ sự
can thiệp bền bỉ trong bốn năm cũa một số nhân vật thân với chế độ Hà-nội
lâu năm tại Pháp, đến 1984 ông được phép dời Việt-Nam qua định cư tại Pháp.
Nhờ thời gian ở trong tù, tuy ngắn ngủi so với thân phận của hàng trăm
ngàn tù nhân chính trị vào thời gian đó, ông
“hănh
diện”
là có được cơ hội để biết thế nào là sự tàn bạo của chế độ Cộng Sản.
Ư
thức hệ của chính sách
“đổi
mới”
Trong phần đầu của cuốn sách tác giả tŕnh bày ư thức
hệ được Cộng sản Trung quốc và Việt-Nam dùng làm nền tảng cho chính sách
“đổi
mới”
và giải thích chính sách này diễn biến như thế nào. Theo tác giả, ư thức
hệ của “đổi
mới”
là một chuyển hóa từ chủ nghĩa xă hội (CNXH) cổ điển theo kiểu Mác-Lê-Mao
sang CNXH theo kiểu Mác-Lê-Đặng. Ư thức hệ này có một vài điểm chính sau
đây: (1) mục tiêu của CNXH là phát triển lực lượng sản xuất, làm cho dân
giầu, nhưng phải lần lượt người trước người sau, vùng trước vùng sau; (2)
kinh tế thị trường là một phương tiện để xây dựng CNXH; (3) dân chủ XHCN,
pháp luật XHCN, và ư thức hệ và văn hóa XHCN cần được phát triển; (4) để
xây dựng CNXH và hiện đại hóa nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn đầu (có
thể kéo dài 100 năm), những nước XHCN cần mở cửa ra thế giới bên ngoài để
học tập và lợi dụng vốn liếng, và kỹ thuật công nghệ; và (5) Đảng Cộng sản
giữ vai tṛ lănh đạo công cuộc xây dựng CNXH.
Theo nhận xét của tác giả, một điều đáng chú ư là Đảng
CSVN muốn lợi dụng những khía cạnh tích cực của chủ nghĩa tư bản như nguồn
vốn và kỹ thuật để phát triển lực lượng sản xuất, nhưng vẫn bác bỏ quan hệ
sản xuất tư bản về quyền tư hữu, quản lư kinh tế, phân phồi lợi tức và về
thượng từng kiến trúc của xă hội tư bản liên quan đến văn hóa, chính trị,
triết học, tôn giáo, luật pháp, v.v. Một điểm đáng chú ư thứ hai mà tác
giả nêu ra là kinh tế thị trường (tư bản) được sử dụng song song chứ không
thay thế kinh tế kế hoạch hóa với khu vực quốc doanh là lực lượng chủ động
(CNXH). Điểm đáng chú ư thứ ba là có sự phân đôi (dichotomy) giữa
“đổi
mới”
kinh tế và “đổi
mới”
chính trị. Theo đó nhà nước cởi trói phần nào về lănh vực kinh tế nhưng
vẫn xiết chặt về mặt chính trị. Theo tác giả, những điều trên đây cho
thấy rằng CNXH mà đảng CSVN bắt chước của Trung quốc chứa đựng đầy mâu
thuẫn, nhất là trong dài hạn.
Trên đây, tác giả tŕnh bầy rơ chiến thuật
“tương
kế tựu kế”
của Đảng CSVN, thay đổi để tồn tại, nhưng vẫn kiên quyết không từ bỏ CNXH.
Đến đây người ta phải hiểu rơ hơn tại sao CSVN tŕ hoăn liên tục việc cải
tổ những xí nghiệp quốc doanh. Nếu sách lược Mác-Lê-Đặng này thành công
th́ đây là một đại họa cho dân tộc, v́ nếu CNXH c̣n duy tŕ trên đất nước
vài thập niên nữa th́ không biết Việt-Nam sẽ tụt hậu thảm hại đến mức nào.
Một khó khăn cho Đảng CSVN là họ không thể làm chủ được mọi thay đổi, kể
cả thay đổi về ư thức hệ của chính những nhà lănh đạo. Kinh nghiệm cho
thấy đă có biết bao người theo chủ nghĩa Cộng sản trong quá khứ, mà tác
giả là một thí dụ, nay đă thấy sự thật và cố t́m lối thoát cho đất nước.
Một số người theo dơi t́nh h́nh Việt-Nam nhận định rằng, số những đảng
viên CSVN thật sự tin tưởng vào CNXH chẳng c̣n là bao nhiêu. Họ cấu kết
vơi nhau v́ một số đặc lợi. Thế giới chỉ c̣n vài nước gọi là theo CNXH về
h́nh thức nhiều hơn là về thực chất. Ở những nơi này, CNXH được sử dụng
như một chiêu bài tiện lợi để chứng minh cho sự tồn tại của những chế độ
tư bản độc tài mới.
Ngoài ư thức hệ Mác-Lê, CSVN c̣n nói đến tư tưởng Hồ
Chí Minh dùng làm chỉ đạo cho chính sách
“đổi
mới”
mà họ đang áp dụng hiện nay. Theo tác giả, sau khi Liên xô và Đông Âu sụp
đổ, đảng CSVN tạo ra
“tư
tưởng Hồ Chí Minh”
để CNXH ở Việt-Nam mang mầu sắc dân tộc và có lư do tồn tại. Ông Hồ đă
từng tuyên bố: “Tôi
không có tư tưởng ǵ ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê cả.”
Như thế quan điểm căn bản của ông Hồ và đảng CSVN vẫn là chuyên chính vô
sản theo CNXH Mác-Lê-Mao. Ông Hồ có nói đến
“tập
trung dân chủ”
(democratic centralism), nhưng trên thực tế chỉ có tập trung (danh từ) chứ
không hề có dân chủ (tĩnh từ). Theo tác giả nguyên tắc tổ chức này của
CSVN phải được gọi là
“tập
trung chuyên chính”
(dictatorial centralism). Tác giả cũng lưu ư rằng Cộng sản chẳng hề dùng
cụm từ “dân
chủ tập trung”
(centralized democracy) như một số người lầm tưởng.
Ông Hồ từng tuyên bố rằng:
“Từ
một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH mà không phải qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
Chủ trương này đă thất bại và không phù hợp với ư thức hệ
“đổi
mới”
đảng CSVN hiện nay theo đuổi. Một cách khách quan, tác giả nói rằng không
phải cái ǵ ông Hồ nói cũng sai cả. Mọi người phải đồng ư với ông Hồ khi
ông nói rằng: “Hễ
chính phủ nào mà có hại cho dân chúng th́ dân chúng phải đập đổ chính phủ
ấy đi và gây nên chính phủ khác,”
hoặc là “Nếu
nước độc lập mà dân chúng không hưởng hạnh phúc, tự do th́ độc lập cũng
chẳng có nghĩa lư gí.”
Những câu nói này thật là chí lư.
Đảng CSVN nói rằng chính sách
“đổi
mới”
hiện nay dựa vào
“tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Theo tác giả điều này hoàn toàn sai lầm, nếu không muốn nói là bịa đặt. Về
mặt kinh tế ông Hồ chủ trương rằng:
“Kinh
tế quốc doanh là h́nh thức sở hữu của toàn dân, nó lănh đạo nền kinh tế
quốc dân ... tạo nền tảng vững chắc cho CNXH và thúc đẩy việc cải tạo XHCN.”
Các thành phần sản xuất khác như cá thể và
tư doanh bị cấm đoán. Thêm vào đó nhà nước chủ trương thiên về công nghiệp
nặng, coi nhẹ công nghiệp nhẹ và nông nghiệp. Kết quả là như ông Vơ Nguyên
Giáp nói tại Hà-Nội vào năm 2000:
“Nền
kinh tế xă hội (của Việt-Nam) đang ở trong t́nh trạng tŕ trệ, nghèo khổ.
Đời sống của nhân dân cũng như năng suất lao động đang ở trong t́nh trạng
thấp kém và lạc hậu hàng mấy thế kỷ, không những so với các nước phát
triển mà so cả với những nước ở trong khu vực.”
Chúng ta ca ngợi những lời phê phán thẳng thắn của ông
Giáp. Nó đă phần nào giúp cho chương tŕnh
“đổi
mới”
được tiếp tục từ đó đến nay, mặc dù chậm chạp, nửa vời, và có những lúc bị
khựng lại một cách nghiêm trọng v́ sự chống đối của những nhân vật vọng cổ.
Theo TS Vơ Nhân Trí, hiển nhiên là không có thể nào dựa vào
“tư
tưởng Hồ Chính Minh”
trái khoáy như đă tŕnh bầy ở trên để có thể xây dựng chính sách
“đổi
mới”
kinh tế hiện nay được. Điều này thật sáng tỏ như ban ngày.
“Đổi
mới”
kinh tế
Tác giả cho biết gần đây cựu Ủy viên Bộ Chính trị
Nguyễn Đức B́nh đă thừa nhận rằng:
“Đảng
ta đă phạm sai lầm... nóng vội trong cải tạo XHCN xóa bỏ ngay nền kinh tế
nhiều thành phần ... duy tŕ quá lâu cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.”
Căn cứ vào thực trạng đó và sau khi tham khảo ư kiến với Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Sô-viết Mikhail Gorbachev, CSVN cho ra đời chính sách
“đổi
mới”
vào cuối năm 1986. Để đóng góp với những nhận xét trên của tác giả, chúng
ta cũng cần nêu rơ thêm ba điểm: (1) chính sách
“đổi
mới”
của CSVN hoàn toàn rập theo khuôn khổ của chính sách
“đổi
mới”
của Trung quốc mà nước láng giềng của Việt-Nam này đă đem ra thực hiện từ
1978; (2) Tuy công bố chính sách đổi mới từ năm 1986, Việt-Nam không thi
hành chính sách này cho tới năm 1988 sau khi Lê Duẩn đă qua đời, và t́nh
trạng kinh tế thê thảm hơn với sự cắt giảm viện trợ của các nước Đông Âu
và Nga xô. Việc thi hành chính sách
“đổi
mới”
được đánh dấu bằng sự ra đời của luật Đất đai 1988; (3) Rất nhiều người,
nhất là những người từng sống tại miền Nam Việt-Nam trước 1975, không đồng
ư với danh từ “đổi
mới”
của CSVN v́ họ cho rằng phải dùng từ
“đổi
cũ”
mới đúng. Từ đầu thập niên 50 đến nay, người dân Việt đă phải chứng kiến
việc cải cách ruộng đất tới lui nhiều lần. Vào nửa đầu thập niên 50, CSVN
tịch thu ruộng đất của địa chủ ở miền Bắc rồi chia cho dân. Đến năm 1957,
CSVN bắt đầu thu hồi đất đai của dân để xây dựng nông trường và hợp tác xă
nông nghiệp ở miền Bắc. Chính sách hợp tác hóa nông nghiệp này, đất của
chung dưới sự quản lư của nhà nước, được áp dụng tại miền Nam trong thời
gian 1975-1987, nhưng hoàn toàn thất bại. Nay nhà nước đảo ngược chính
sách một lần nữa, trao trả dần đất cho dân chúng. Trước hết quyền sử dụng
đất trong 5-10 năm. Thời hạn này nới rộng ra dần tới 50 năm.
TS Vơ Nhơn Trí đă lưu ư ngay từ 1986 rằng chính sách
“đổi
mới”
vẫn nằm trong quỹ đạo CNXH. Tác giả dẫn chứng rằng Tổng Bí thư Nguyễn Văn
Linh lúc đó đă nói rằng chính sách
“đổi
mới”
chỉ nhằm tăng hiệu năng của CNXH mà thôi. Đại Hội 7 (1991) của Đảng CSVN
nói rơ hơn là, nền kinh tế nhiều thành phần phải
“vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lư của nhà nước, theo định hướng
XHCN.”
Đại Hội 8 (1996) của Đảng CSVN nhấn mạnh thêm là
“đổi
mới”
nhằm mục đích xây dựng XHCN chứ không phải đi theo con đường tư bản chủ
nghĩa.
Theo tác giả, gần đây nhất là báo cáo của Đại Hội 9 của
Đảng CSVN vào tháng 4. 2001 đă nêu lên bốn điểm chính của kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN như sau: (1) Mục tiêu của kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN là
“phát
triển lực lượng sản xuất ... để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
CNXH. Sử dụng cơ chế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy tinh thần
năng động ... của người lao động ... thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ... (nhưng phải) đúng định hướng XHCN”;
(2) Trong nền kinh tế nhiều thành phần, khu vực
“kinh
tế nhà nước (phải) giữ vai tṛ chủ đạo”;
(3) “Nhà
nước XHCN ... quản lư nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp thị trường với
kế hoạch”
và “hạn
chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường”
; (4) “Kinh
tế thị trường định hướng XHCN thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động ... và theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh
doanh ... “
Qua những điểm tŕnh bày ở trên, TS Vơ Nhơn Trí cho
rằng có một khoảng cách rất lớn giữa một nền kinh tế thị trường thật sự và
một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN như hiện nay ở Việt-Nam. Hầu
hết những kinh tế gia theo dơi t́nh h́nh Việt-Nam cũng có đồng quan điểm
như vậy. Heritage Foundation với sự cộng tác của Wall Street Journal hàng
năm đều làm một cuộc điều nghiên về độ tự do kinh tế tại nhiều nước và
lănh thổ. Kết quả của cuộc điều nghiên 156 nước trong năm 2002 cho thấy
Việt-Nam được xếp vào loại
“mostly
unfree”.
Khi có cuộc tranh tụng về vụ bán phá giá cá tra / cá basa vào năm 2003,
nhà nước muốn chứng minh rằng kinh tế Việt-Nam là một nền kinh tế thị
trường theo đó giá cả do luật cung cầu ấn định, không có sự can thiệp của
nhà nước. Tuy nhiên, cũng có những kinh tế gia ủng hộ quan điểm của nhà
nước Việt-Nam như TS Phạm Đỗ Chí và TS Vũ Quang Việt. Ông Chí cho rằng sự
bành trướng mạnh của khu vực tư nhân ở mức độ 195% từ 1995 đến 2002 chứng
tỏ sự thành công của chương tŕnh cải tổ kinh tế ở Việt-Nam mà kết quả là
thị trường mở rộng, hệ thống giá cả tự do và luật lệ được thi hành nghiêm
chỉnh. Ô. Việt lập luận rằng chính phủ chỉ kiểm soát giá cả trong khu vực
độc quyền của nhà nước như trong mọi nền kinh tế khác. Nhà nước cần can
thiệp vào hệ thống ngân hàng để kiểm soát lăi suất và chương tŕnh cho vay.
Hệ thống cho thuê mướn đất cho phép việc sử dụng đất lâu đến 100 năm và
quyền sử dụng này được chuyển nhượng. Như vậy hệ thống cho thuê mướn đất ở
Việt-Nam tương đương với quyền tư hữu đất đai.
Tác giả nhận xét rằng từ đầu năm 2000, khi luật Doanh
nghiệp bắt đầu có hiệu lực và đặc biệt là từ tháng 3. 2002, nhà nước mới
khuyến khích khu vực tư nhân phát triển đôi chút nhưng vẫn ưu đăi khu vực
quốc doanh, mặc dù khu vực này vẫn thảm bại. Nhà nước CSVN chủ trương công
nghiệp hóa đất nước nhưng dành ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước và
đặc biệt là phát triển công nghiệp nặng. Đây hoàn toàn không phải là những
lời phê phán mà là những dữ kiện. Kết quả là cả ba giai đoạn công nghiệp
hóa 1976-1987, 1988-1991, và 1992 đến nay đều thất bại theo sự nhận xét
của hai kinh tế gia ở Hà-Nội là Lê Việt Đức và Trần Thị Thu Hằng.
Tác giả cho biết là theo nhà nước CSVN, kinh tế thị
trường có sáu thành phần theo thứ tự ưu tiên như sau: nhà nước hoặc quốc
doanh (state sector), tập thể (collective sector), tư bản nhà nước (state
capitalism sector), cá thể và tiểu chủ, tư bản tư nhân (private capitalism
sector) và đầu tư nước ngoài (foreign-invested sector). Sau ba đợt cải tổ,
75- 80% của tổng số 5,400 doanh nghiệp nhà nước vẫn bị lỗ lă. Số nợ của
các doanh nghiệp này lên tới 13.1 tỉ Mỹ kim vào cuối năm 2000. Tác giả
nhận xét rằng dù làm ăn thất bại, khu vực xí nghiệp quốc doanh vẫn tiếp
tục được các nhà lănh đạo Hà-nội ủng hộ. Ông Đỗ Mười bào chữa chính sách
của nhà nước như sau:
“Một
doanh nghiệp nhà nước xét riêng rẽ là lỗ, nhưng nó tạo điều kiện cho các
ngành kinh tế khác phát triển hoặc phục vụ nhiệm vụ chính trị, xă hội quan
trọng của Đảng và nhà nước, th́ v́ lợi ích toàn cục, vẫn phải được nhà
nước giúp cho doanh nghiệp ấy tồn tại và phát triển.”
Ông Nông Đức Mạnh cũng lên tiếng bênh vực các doanh nghiệp nhà nước:
“Chúng
ta không thể chấp nhận quan niệm coi doanh nghiệp nhà nước tất yếu dẫn tới
kém hiệu quả ... Kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, có vai tṛ quyết
định trong việc giữ vững định hướng XHCN.”
Tác giả giải thích rằng ngoài xí nghiệp quốc doanh ra,
khu vực nhà nước c̣n bao gồm ngân sách quốc gia, quỹ dự trữ quốc gia, các
quỹ quốc gia thuộc sở hữu nhà nước, ngân hàng nhà nước, các ngân hàng
thương mại quốc doanh, đất đai và tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng
sản xuất, và đại bộ phận cơ sở hạ tầng xă hội. Ngoài ra, nhà nước c̣n là
chủ nhân ông của nhiều cơ sở trong khu vực tập thể như hợp tác xă và khu
vực tư bản nhà nước như công ty liên doanh với tư nhân trong và ngoài nước.
Cho nên khu vực quốc doanh rất lớn. Theo tác giả, trong khoảng thời gian
từ 1991- 1995 kinh tế phát triển liên tục nhờ ba yếu tố: Các thành phần
kinh tế ngoài xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xă được phép tham gia vào
việc phát triển, vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt-Nam và kinh tế Việt-Nam
xuất phát ở mức rất thấp. Những nhận xét của tác giả rất xác đáng. Kể từ
1996, nghĩa là hai năm trước khi cuộc khủng hoảng tài chánh Á châu bắt đầu
ảnh hưởng vào Việt-Nam, sự phát triển của Việt-Nam đă bị chậm lại v́ những
sự yếu kém trong cơ cấu kinh tế. Cuộc khủng hoảng tài chánh chỉ làm tăng
thêm những sự yếu kém đó. Những cơ quan tài trợ quốc tế đều có cùng một
quan điểm như vậy.
TS Vơ Nhơn Trí cho biết tại một buổi hội thảo tại
Hà-nội vào năm 2000 Ông Vơ Nguyên Giáp thừa nhận rằng:
“Chúng
ta phải ... dũng cảm nh́n vào sự thật, thấy rơ ràng rằng nước ta vẫn c̣n
là một nước lạc hậu và nghèo nàn trên thế giới ... Tŕnh độ công nghệ so
với các nước trung b́nh c̣n lạc hậu hơn mấy thập kỷ, so với các nước tiền
tiến th́ gần cả trăn năm.”
Tác giả tiếc là một mặt ông Giáp thừa
nhận t́nh trạng rất lạc hậu của Việt-Nam, nhưng lại vẫn tán thành Chủ
nghĩa Xă Hội. Ông Giáp
“không
thấy hoặc không muốn thấy rằng cái này (CNXH) là nguyên nhân trực tiếp của
cái kia (t́nh trạng lạc hậu).”
Để mô tả chế độ kinh tế vá víu ở Việt-Nam, tác giả
trích dẫn một đoạn phê phán của Jean-Louis Rocca trong bài
“Le
Capitalisme Chinois”
đăng trên tạp chí Pouvoir :
“Kinh
tế Việt-Nam hiện nay là một nền kinh tế hỗn hợp tích lũy các khía cạnh
tiêu cực nhất, vừa của CNXH hoang tàng, vừa của tư bản hoang dại, theo
kiểu Trung Quốc.”
Hiển nhiên là cải tổ một nền kinh tế như vậy là một công tác vô cùng khó
khăn. T́nh trạng này càng để lâu lại càng nan giải và kinh tế phát triển
càng chậm.
Để
xóa bỏ nỗi quốc nhục hiện nay Việt-Nam phải làm ǵ ?
TS Vơ Nhơn Trí đề nghị một kế hoạch gồm 10 biện pháp
sau đây để khắc phục t́nh trạng tụt hậu ngày càng xa hơn và đuổi kịp các
nước láng giềng. Ông tin rằng Việt-Nam phải có một thể chế chính trị dân
chủ thật sự mới có thể thực hiện các biện pháp này.
1. Cởi trói thật sự kinh tế tư nhân.
2. Cải tổ triệt để các xí nghiệp quốc doanh.
3. Cải cách sâu rộng hệ thống ngân hàng.
4. Thiết lập nhà nước pháp quyền công minh.
5. Thiết lập một hệ thống quản lư quốc gia hữu
hiệu gồm ba thành phần b́nh đẳng là nhà nước, kinh tế tư nhân, và xă hội
dân sự.
6. Nâng cao hiệu suất của nông nghiệp.
7. Tăng cường tri thức và công nghệ.
8. Tích cực hội nhập kinh tế vùng và thế giới.
9. Thiết lập mạng lưới an sinh xă hội và khắc
phục t́nh trạng cách biệt giầu nghèo.
10. Tiến hành xây dựng
“con
người kinh tế Việt-Nam”.
Trên đây là những biện pháp cấp thiết nhất để phát
triển kinh tế Việt-Nam. Một số lănh vực khác cũng cần lưu tâm là cải
thiện cấp bách hạ tầng cơ sở đặc biệt tại nông thôn, cải tổ luật lệ về đất
đai và môi trường đầu tư ngoại quốc, phát triển các ngành tiểu công nghệ
và công nghiệp nhẹ kể cả kỹ nghệ biến chế nông phẩm. Về kế hoạch phát
triển dài hạn phải kể đến việc cải tổ các ngành giáo dục, y tế và môi
sinh.
“Đổi
mới”
kinh tế và “đổi
mới”
chính trị
Trong cuốn sách
“Việt-Nam
cần đổi mới thật sự”,
TS Vơ Nhơn Trí thảo luận hai vấn đề
“đổi
mới”
kinh tế và “đổi
mới”
chính trị riêng rẽ. Tuy nhiên theo tác giả, trên thực tế không thể tách
rời hai loại “đổi
mới”
này. Trong 15 năm qua, tác giả nhận định rằng, kinh tế đă được cỏi mở một
phần nào nhưng hệ thống chính trị vẫn nguyên vẹn ngoại trừ một vài thay
đổi ở ngoại vi. Sau 1975, Hiến pháp của nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa
Việt-Nam đă được sửa đổi ba lần để nêu cao mục tiêu củng cố chế độ xă hội
chủ nghĩa ở miền Bắc, xă hội hóa miền Nam, và tăng cường khả năng quốc
pḥng chống lại sự xâm lăng của Trung quốc (1980); chính thức hóa nền kinh
tế nhiều hộ sản xuất (1992); và sau chót là chính thức hóa chế độ kinh tế
thị trường (2001). Cương lĩnh chính trị và cơ chế của Đảng CSVN và nhà
nước vẫn không suy chuyển. Điều 4 Hiến pháp bảo đảm sự độc tôn của Đảng
CSVN, Nghị Định 31/CP Quản chế Hành chánh
“biến
nhà ở thành nhà tù”,
Nghị Định 89/CP cho phép
“tạm
giam”
vô thời hạn mọi công dân vẫn c̣n đó.
Theo tác giả, hiện tượng đông lạnh chính trị này đă đến
thời điểm ḱm hăm
“đổi
mới”
về kinh tế. Ông xác định rằng,
“cải
tổ kinh tế không tự động dẫn đến mở rộng tự do về mặt chính trị, ở
Việt-Nam cũng như ở Trung quốc... Sự phân đôi quá tŕnh
“đổi
mới”
như Đảng CSVN đang làm hiện nay không thể kéo dài măi được... Bởi v́ đến
một lúc nào đó, nếu không đẩy mạnh cải tổ chính trị hơn nữa th́ cải tổ
kinh tế sẽ bị ḱm hăm dần dần, thậm chí có thể tắc nghẽn. Và hiện tượng
này đă bắt đầu xảy ra hồi đầu năm 1997.”
Tác giả trích dẫn quan điểm của nhiều nhân vật về sự
liên hệ giữa “đổi
mới”
kinh tế và “đổi
mới”
chính trị. Ông Trần Độ ba năm trước đây đă nhận xét như sau:
“Trong
nhiều nghị quyết của Đảng cũng có nói tới
“cải
cách chính trị”
đi đôi với “cải
cách kinh tế”.
Và có nói thêm “cải
cách kinh tế đi trước”
rồi tiến hành “cải
cách chính trị”
nhưng lại thấy mất tăm; thay vào đó là
“cải
cách hành chánh”
mà suốt nhiều năm qua vẫn chưa đi tới đâu. Theo tôi cải cách kinh tế hiện
nay đang đ̣i hỏi phải có cải cách chính trị một cách mạnh mẽ và nếu không
có cải cách chính trị th́ cải cách kinh tế sẽ bế tắc.”
Theo tác giả th́ gần đây hơn, ông Joseph Stiglitz,
người đoạt giải thưởng Nobel về kinh tế vào năm 2001, trong cuộc phỏng vấn
dành cho tạp chí Vietnam Economic Times vào tháng 3. 2002, nhẩn mạnh rằng
phát triển không phải chỉ là tăng tổng sản lượng quốc nội (GDP) mà c̣n là
tạo dựng một xă hội tốt đẹp hơn, một xă hội dân chủ thực sự và công bằng.
TS Vơ Nhơn Trí khẳng định rằng:
“Chế
độ Hà-Nội hiện nay về cơ bản vẫn là một chế độ XHCN toàn trị, chứ không
phải đă từ bỏ XHCN”
như một số người lầm tưởng. V́ vậy những người dân chủ phải đấu tranh để
“phi
xă hội chủ nghĩa hóa”
chế độ này toàn diện. Để kết luận, TS Vơ Nhơn Trí đưa ra nhận xét rằng
“Kinh
nghiệm của các nước Trung Âu và Đông Âu cho thấy rằng, nước nào kiên quyết
thay đổi dứt khoát hệ thống chính trị cũ và hệ thống chính trị mới như Ba
Lan, Hungari, Cộng Ḥa Tiệp từ lúc khởi đầu đều thành công, cả về mặt phát
triển kinh tế lẫn tiến bộ dân chủ thật sự về mặt chính trị. Ngược lại, các
nước nào chỉ cải cách nửa vời về mặt chính trị và kinh tế th́ không thành
công cả về hai mặt này.”
Việt-Nam đang đứng trước những thử thách hết sức to lớn
do những sự hội nhập kinh tế vùng và toàn cầu tạo ra. Mặt khác tự cô lập
hóa không phải là một lựa chọn cho Việt-Nam. Do đó để chuẩn bị mở rộng cửa
buôn bán với thế giới, nhu cầu đổi mới trong nội bộ về cả hai mặt kinh tế
và chính trị trở nên thật sự cấp bách. Nếu phải
“đổi
mới”
trong thế bị động, đất nước sẽ bị thua thiệt nhiều, khó có thể phát triển
nhanh chóng, và tiếp tục tụt hậu. Nếu những
“đổi
mới”
được thực hiện trong thế chủ động, đất nước sẽ sớm ra khỏi cảnh nghèo đói.
Cuốn sách
“
Việt-Nam cần đổi mới thật sự
“
của TS Vơ Nhơn Trí là một tài liệu quư báu cho những người muốn t́m hiểu
cặn kẽ về hiện t́nh ở Việt-Nam về cả hai mặt kinh tế và chính trị. Đọc
sách của TS Vơ Nhơn Trí, độc giả sẽ biết rơ hơn những quan điểm khác nhau
về sự đổi mới tại Việt-Nam của những nhà trí thức và những nhà lănh đạo
trong và ngoài nước. ♣
Việt-Nam Cần Đổi Mới Thật Sự
TS Vơ Nhơn Trí
Sách
dầy 256 trang, khổ 5”x8”,
do Đông Á xuất bản, 2003. P.O. Box 99, 2147 Commercial Drive, Vancouver,
BC V5N 4B3, Canada. Điện thoại: (604) 251-2222. Fax: (604) 251-2279.
E-mail: pham_van@yahoo.com. Giá bán: $15.
Chú thích:
. Vơ Nhơn Trí, „Vietnam´s
Economic Policy Since 1975“, Institute of
Southeast Asian Studies, Singapore 1990.
. Heritage Foundation, „2003 Index of Economic
Freedom”, Washington DC, Nov.2002
. Chi Do Pham, „Is Vietnam a Market Economy ?“
, Potomac Investments and Research Associates, Washington DC, Febr.
13,2003
.Sasakawa Peace Foundation USA, „Is Vietnam a
Market Economy ? Recent Reforms and Agenda-Summarizing essay”,
Washington DC, Febr. 13,2003
.Lê Việt Đức, Trần Thị Thu Hằng, „Công nghiệp
VN: Những thành tựu và thách đố“, trong „Đánh
thức con rồng ngủ quên-Kinh tế VN đi vào thế kỉ“,
Phạm Đỗ Chí và Trần B́nh chủ biên, Thời báo Kinh tê Sài g̣n, 2002
. Nr. 81,1997, ed.
Seuil Paris, 1997, p. 25-26
. Nguyễn Quốc Khải,
„Liệu cải tổ kinh tế và mở cửa buôn bán với thế giới có mang lại tự do và
dân chủ cho VN hay không?“, Thế kỉ 21, số 176,CA, Dez. 2003 |