|
|
Để
tiến tới Quan hệ B́nh thường
giữa Người Việt Hải ngoại và Việt Nam
LTS:
Giữa tháng 1. 2003 Hội nghị Trung ương (HNTU) Đảng CSVN lần thứ 7 (phần
hai) đă được triệu tập để thảo luận về các vấn đề “đoàn kết dân tộc” và
“tự do tôn giáo”. Sau đó có một số sự kiện đă xẩy ra: Đầu tháng 4.02 Thủ
tướng Phan Văn Khải lần đầu tiên tiếp chính thức Hoà thượng Thích Huyền
Quang, lúc đó là quyền Viện trưởng Viện Tăng thống Giáo hội VN Thống nhất.
Giữa tháng 6.03 Phái đoàn do Thứ trưởng Ngoại giao, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban
Người Việt ở Nước ngoài đă thăm Hoa ḱ và gặp một số chuyên viên ngừơi
Việt (xem Dân chủ & Phát triển số 26, 8.03). Sau đó Chủ tịch đoàn Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN đă quyết định sẽ tổ chức một hội nghị lấy
tên là “Diễn đàn trí thức VN góp ư kiến xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
vào 29-31.1.04 (ngay sau Tết Giáp Thân). Các thơ mời đă được gởi vào tháng
9.03 tới một số chuyên viên VN ở nứơc ngoài có cảm t́nh với chế độ. Nhưng
vào đầu tháng 11 họ đă được báo tin là Hội nghị này bị đ́nh hoăn vô hạn
định và không nêu lí do. Cuối cùng chỉ có tướng Nguyễn Cao Kỳ về VN vào
dịp này.
Trong khi nhiều chuyên viên
Việt kiều có cảm t́nh với chế độ măi tới cuối năm 2003 mới thấy rơ thái độ
và tư cách của nhóm cầm đầu chế độ hiện nay. Nhưng ngay từ cuối năm 2002
khi Bản Dự thảo của HNTU 7 (phần 2) được chuyển tới những “cách mạng lăo
thành” để góp ư kiến th́ nhiều nhân vật trước đây đă giữ các chức vụ quan
trọng trong Bộ chính trị cũng như Trung ương đảng đă thấy ngay chẳng có ǵ
mới cả. Một trong những nhân vật này là Trần Bạch Đằng, một ngừơi
sau nhiều thập niên trong tư cách là ngừơi đứng đầu ngành “trí vận” ở miền
Nam của chế độ, đă đưa ra nhận xét: “ … dự thảo không có ǵ mới, tôi
xin nói thẳng, dự thảo lặp lại một số khẩu hiệu, mọi chuyện đă nói từ
trước đến nay không biết bao nhiêu lần rồi và coi như thuộc ḷng và bằng
ḷng với cách diễn đạt.”
C̣n cựu Uỷ viên BCT, nguyên
Bộ trưởng Công an Mai Chí Thọ đă nói thẳng về tư cách và thái độ
của những người đang có quyền hành hiện nay:”C̣n bây giờ ta giành hết,
không cho ai làm cả, một ḿnh một chợ.” (Xem bài
Tài liệu
từ trong nước
“Ư kiến
phát biểu của các đồng chí cách mạng lăo thành về dự thảo báo cáo"phát huy
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân v́ “dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng,
dân chủ, văn minh" trong báo điện tử Dân chủ & Phát triển.)
Trong các năm
vừa qua GS Lê Xuân Khoa thường hay tổ chức cho các phái đoàn của chính phủ
VN tiếp xúc với các tổ chức kinh tế và chuyên gia Mĩ cũng như các chuyên
viên Việt kiều ở Mĩ, thành thử Ông được sự tin cậy của một số viên chức
cao cấp Hà nội. Bài dưới đây có thể xem như kinh nghiệm làm việc của ông
Lê Xuân Khoa với chế độ cũng như với cộng đồng.
Các phần in đậm
và […] là của chúng tôi.
LÊ XUÂN KHOA
Cộng đồng người Việt Nam ở
Hoa kỳ, với khoảng một triệu ba trăm ngàn người,[1]
chỉ sau một phần tư thế kỷ đă trở thành một bộ phận sắc tộc khá thành công
và có những đóng góp tích cực cho
“xứ
sở của di dân”.
So với các cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, người Việt Nam
ở Mỹ là một thực thể đông đảo nhất, do đó có khả năng đóng góp rất quan
trọng cho quê hương nguồn cội về tài chánh cũng như về trí tuệ. Trước
những cố gắng hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc tế trong khung cảnh
toàn cầu hóa, đặc biệt là tiến tŕnh phát triển các quan hệ hợp tác với
Hoa kỳ, vấn đề quan hệ giữa cộng đồng người Việt ở Mỹ và Việt Nam lại càng
cần phải được xem xét nghiêm chỉnh. Những ư kiến của người viết về trường
hợp riêng biệt này cũng được được đặt vào khung cảnh quan hệ chung giữa
toàn thể cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và Việt Nam.
Hai mươi tám năm sau chiến
tranh, tiến tŕnh quan hệ b́nh thường giữa hai chính phủ Hoa kỳ và Việt
Nam, bắt đầu từ việc thiết lập Đại sứ quán ở Hà Nội và Washington năm
1995, đă đạt được một bước quan trọng là Hiệp định Thương mại song phương
năm 2001. Chỉ trong ṿng hai năm, mặc dù có một số trở ngại cho Việt Nam
như vụ kiện về cá ba-sa hay hạn ngạch (quota) về đồ may mặc, Hoa kỳ đă
đứng đầu trong những quốc gia nhập cảng hàng hoá Việt. Chuyến viếng thăm
Hoa kỳ của Bộ trưởng Quốc pḥng Phạm Văn Trà cũng như sự hiện diện của
chiến hạm Vandegrift tại bến Sài-g̣n trong tháng Mười Một 2003 là những
tín hiệu cụ thể của mối quan hệ quân sự trong một tương lai không xa.
Trong khi đó, quan hệ
giữa cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài và chính
quyền ở trong nước vẫn chưa được b́nh thường hóa,
hiểu theo nghĩa là có sự trao đổi và hợp tác một cách công khai và chính
thức giữa hai bên. Từ nhiều năm qua, các nhà cầm quyền trong nước đă tỏ ư
mong muốn hoà giải và kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào
“sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”, nhưng sự đáp ứng của trí
thức hải ngoại, kể cả những chuyên gia trẻ tuổi, vẫn chưa có ǵ đáng kể.
Hàng năm, người Việt ở nước ngoài vẫn gửi tiền về nước và số tiền đă gia
tăng đều đặn. Riêng trong năm 2003, tổng số tiền mặt gửi về dưới nhiều
h́nh thức và mục đích có thể đă lên tới trên bốn tỉ đô-la,[2]
một h́nh thức viện trợ tự động và một chiều mà chính phủ không cần phải
tốn thời gian thương lượng với các thủ tục kư kết và giấy tờ phiền phức.
Tổng số người Việt Nam về nước dưới các dạng du lịch, thăm thân nhân, làm
công tác nhân đạo hay kinh doanh cũng trong năm 2003 là hơn 300,000 người.
Tuy nhiên, trong số đó chỉ có chừng 200 nhà khoa học, trí thức về nước làm
công tác giảng dạy, tư vấn.[3]
Chương tŕnh
“Chuyển
giao Trí thức thông qua Kiều dân”
(Transfer of Knowledge through Expatriate Nationals-TOKTEN) của Chương
tŕnh Phát triển Liên hiệp quốc (United Nations Development Program-UNDP)
rất thành công ở các xứ đang phát triển, nhưng ở Việt Nam từ 1989 đến nay
chỉ có được sự tham gia của chừng bốn chục chuyên viên người Việt ở nước
ngoài.[4]
Mặc dù số lượng ngoại tệ gửi
về nước rất quan trọng và số người tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào
công cuộc phát triển đất nước có chiều hướng gia tăng, hoạt động chống đối
chính quyền cộng sản trong cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn c̣n tiếp tục.
Chủ trương giải phóng quê hương bằng bạo lực nay gần như không c̣n
được theo đuổi, nhưng công cuộc tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền đă trở
thành một phong trào chính trị được hậu thuẫn cả từ trong lẫn ngoài nước,
và được các tổ chức nhân quyền quốc tế nhiệt t́nh hỗ trợ. Ngay cả
“đa
số thầm lặng”
ở hải ngoại vốn sẵn sàng bỏ quá khứ lại đàng sau, cũng không nén nổi sự
khó chịu và có thể phản ứng mạnh mỗi khi vết thương cũ lại được mở ra, vô
t́nh hay cố ư, bởi một số viên chức trong chính quyền hay những người ủng
hộ chế độ trong nước, chẳng hạn vụ Trần Trường ở California hồi tháng
Giêng năm 1999.[5]
Đa số thầm lặng này dù không tán thành những h́nh thức đấu tranh quá khích
và muốn đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam cũng vẫn trông đợi chính
quyền tiếp tục đổi mới và ban hành những quyền tự do căn bản. Do đó, bằng
những phương cách thích hợp, họ cũng ủng hộ những yêu cầu chính đáng của
người dân trong nước, nhất là khi thấy có những biện pháp cấm đoán hay
trừng trị khắc nghiệt của chính quyền.
Ngay cả mối quan hệ Mỹ-Việt,
dù đă chính thức b́nh thường hóa, vẫn chưa hoàn toàn ổn định trong tâm
thức của nhiều giới ở cả hai bên do tác động dai dẳng của
“hội
chứng Việt Nam.”
Sau khi cho xuất bản năm 1995 cuốn Nh́n lại Quá khứ: Thảm kịch và Những
Bài học Việt Nam,
cựu Tổng trưởng Quốc pḥng Mỹ Robert McNamara đă nhận định:
“Rơ
ràng là quốc gia của chúng ta chưa hiểu được đầy đủ hoặc chưa hoàn toàn
đồng ư với Việt Nam.”
Tuy nhiên, những cố gắng của ông qua một loạt gặp gỡ những nhân vật cựu
thù trong hơn hai năm sau đó để cùng duyệt xét lại những
“cơ
hội bỏ lỡ”
đă chỉ đưa đến kết quả là một
“Cuộc
Tranh luận Vô cùng tận”.[6]
Về phía Việt Nam, thỉnh thoảng vẫn thấy có những lời phát biểu quá đáng
hay những phản ứng tiêu cực về những quan hệ với Hoa kỳ do sự lo ngại đến
trở thành hoang tưởng về
“âm
mưu diễn biến hoà b́nh.”[7]
Thật ra, cụm từ
“diễn
biến hoà b́nh”
rất gượng ép và hàm chứa hai điểm nghịch lư: thứ nhất, nếu hiểu
“diễn
biến”
là nguy hiểm th́ không thể đem ghép với
“ḥa
b́nh”;
và thứ hai, nếu hiểu
“diễn
biến hoà b́nh”
là một quá tŕnh tiến hoá hoà b́nh (như peaceful evolution trong tiếng Anh)
th́ tại sao lại chống nó? Chẳng lẽ lại muốn thay thế bằng một quá tŕnh
“thoái
hóa hỗn loạn”?
Nói cho đúng, Đảng và
Nhà nước Việt Nam có lư do để lo ngại sẽ bị mất độc quyền cai trị và kiểm
soát nhân dân nếu phải thật sự mở rộng các quyền tự do dân chủ, v́ thế đă
không chịu chấp thuận những yêu cầu cải thiện t́nh trạng nhân quyền từ bên
trong hay bên ngoài, và kịch liệt chống lại mọi cuộc vận động cho dân chủ
và nhân quyền, kết án những nỗ lực này là
“âm
mưu diễn biến hoà b́nh”
và coi tất cả mọi cá nhân hay tổ chức lên tiếng yêu cầu cải cách là
“những
thế lực thù địch.”
Mặt khác, Đảng
và Nhà nước Việt Nam cũng nhận thấy không thể tiếp tục duy tŕ một nền độc
tài toàn trị trong quá tŕnh thực hiện kinh tế thị trường, hoà nhập với
cộng đồng quốc tế và phát triển quan hệ với Hoa kỳ. V́ thế các nhà lănh
đạo đều tuyên bố sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa và, từ năm 2001, mục
tiêu
“dân
chủ”
đă được thêm vào khẩu hiệu mà chính phủ cần thực hiện là
“dân
giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh.”
Trong t́nh trạng tiến thoái lưỡng nan ấy, thay v́ chủ động thi hành những
biện pháp thích ứng có sáng tạo -một đặc điểm của dân tộc Việt- có thể
ngăn ngừa trước các phong trào tranh đấu, chính phủ lại phản ứng
bằng những biện pháp độc đoán đưa đến những vụ đàn áp, bắt bớ bất công,
khiến cho những tiếng nói phản kháng ở trong nước, những lời tố cáo của
các tổ chức quốc tế về nhân quyền và những cuộc vận động, tranh đấu cho tự
do dân chủ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài c̣n gia tăng hơn nữa.
Như vậy, vấn đề quan trọng là
làm thế nào t́m ra được những biện pháp thích ứng có sáng tạo để ra khỏi
t́nh trạng lúng túng hiện nay và tránh được hậu quả tai hại của những biện
pháp cứng rắn, phản dân chủ? Để có thể t́m ra những biện pháp khả thi,
trước hết cần phải xác nhận sự cần thiết của một tiến tŕnh dân chủ hoá
thích hợp với những đặc tính văn hoá xă hội của dân tộc, sau đó là giải
tỏa những nỗi nghi ngờ và lo sợ về
“những
thế lực thù địch”
và
“âm
mưu diễn biến hoà b́nh.”
Sự tăng trưởng và phát triển
sinh hoạt kinh tế để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ mới của xă hội thường
thúc đẩy khuynh hướng cởi mở chính trị. Chính sách cởi mở kinh tế cũng làm
gia tăng các thành phần kinh tế và tạo nên những khối ảnh hưởng mới làm
thay đổi môi trường xă hội và những quan hệ chính trị. Sự tái phối trí các
quyền lực, căn cứ theo khả năng kinh tế và chuyên môn, cũng mang mầm mống
của một xă hội đa nguyên với kết quả tất yếu là hiện tượng đa dạng hoá bộ
máy cai trị quốc gia. Hiện tượng này đă được thấy ở Thái lan, quyền lực
chính trị của phe quân phiệt Thái đă dần dần bị giảm thiểu trước sự lớn
mạnh của giai cấp doanh nhân. Người cầm đầu chính quyền ở Hong- kong không
phải là một nhân vật cao cấp của Đảng Cộng sản Trung quốc mà là một nhà
tài phiệt có kinh nghiệm làm ăn với tư bản Tây phương. Gần đây nhất, Trung
ương Đảng Cộng sản Trung quốc lại có thêm đại diện của giới doanh nhân và
tiếp theo đó Quốc hội, lần đầu tiên từ 1949, thảo luận một điều khoản tu
chính hiến pháp nhằm bảo vệ quyền tư hữu.
Sự giao tiếp với thế giới bên
ngoài đă mở cửa cho những thông tin về xă hội dân chủ Tây phương du nhập
vào Việt Nam rất nhiều và rất nhanh qua những làn sóng truyền thanh, những
kênh truyền h́nh, báo chí và nhất là mạng lưới internet. Thêm vào đó là
ảnh hưởng của giới doanh nhân đầu tư và khách du lịch ngoại quốc, những
sinh viên du học trở về nước với những kiến thức và phương pháp làm việc
mới, những người Việt Nam ở nước ngoài về quê hương thăm thân nhân hay làm
việc, v.v. Việc Việt Nam gia nhập khối ASEAN, thiết lập bang giao với Hoa
kỳ và tham gia vào các tổ chức và hiệp ước quốc tế càng gia tăng tính cách
thúc bách của nhu cầu cải cách hệ thống công quyền và cởi mở về chính trị
để thích nghi với hoàn cảnh mới. Ngay cả những tổ chức ôn ḥa nhất như
“Nhóm
Tư Vấn cho Việt Nam”
gồm các nhà tài trợ quốc tế cũng không khỏi lên tiếng cảnh cáo. Tại Hội
nghị thường niên của nhóm này vào tháng Mười Hai 2001 ở Hà Nội, Đại diện
Ngân hàng Thế giới Andrew Steer tuyên bố:
“Cảm
tưởng chung là năm nay Việt Nam tiến bộ hơn năm ngoái, nhưng điều đó không
có nghĩa là các nhà tài trợ cho rằng mọi chuyện đều tốt đẹp. Chúng tôi
muốn nói rằng Việt Nam đang phấn đấu chật vật trong việc thực hiện một
lịch tŕnh cải tổ và chúng tôi muốn giúp vào việc đó.”
Thay mặt cho Liên hiệp Châu Âu (EU), Đại sứ Bỉ tại Việt Nam Philippe
Dartois cho hay, cần có những nỗ lực lớn để xây dựng một chính quyền dân
chủ, cải thiện tính trong sáng và trách nhiệm khả tín của nền hành chánh
và tư pháp, và diệt trừ tham nhũng. Liên hiệp Châu Âu nhấn mạnh rằng tiến
bộ trong guồng máy cai trị sẽ
“ảnh
hưởng trực tiếp đến số lượng viện trợ.”
Năm 2002, nhóm tài trợ quốc tế chấp thuận ngân khoản 2 tỉ rưỡi cho Việt
Nam trong năm 2003 nhưng chỉ giải ngân được 1 tỉ rưỡi v́ Việt Nam không
hội đủ điều kiện thực hiện các chương tŕnh phát triển. Tháng Mười Một
2003, nhóm tài trợ quốc tế lại chấp thuận ngân khoản 2 tỉ 8 cho năm 2004,
nhưng lần này chính phủ Nhật lên tiếng cảnh cáo sẽ cắt giảm viện trợ nếu
Việt Nam vẫn không đủ điều kiện để giải ngân hết số tiền viện trợ. Điều đó
có nghĩa là Việt Nam phải cải tổ nhiều hơn nữa. Nên biết rằng Nhật là quốc
gia tài trợ nhiều nhất cho Việt Nam với ngân khoản 846 triệu đô-la. Liên
hiệp Châu Âu đứng thứ nh́ với ngân khoản 640 triệu. Đại diện Ngân
hàng Thế giới và Liên hiệp Châu Âu tiếp tục nhận xét rằng Việt Nam c̣n
thiếu những quyền tự do căn bản và c̣n cần phải cải thiện về mặt nhân
quyền và bài trừ tham nhũng.
Cần phải nh́n nhận rằng đối
với Việt Nam, một đất nước đă bị tàn phá bởi hai cuộc chiến tranh liên
tiếp (1945-1975) và cô lập với cộng đồng thế giới trong gần nửa thế kỷ, sự
du nhập ồ ạt của những trào lưu tư tưởng và lề lối sinh hoạt quá mới lạ có
thể gây nên t́nh trạng bất ổn về chính trị và xáo trộn đời sống xă hội.
Bởi vậy, trong khi chấp nhận những giá trị phổ quát và thực thi những qui
ước chung của quốc tế, việc hội nhập với cộng đồng thế giới cũng như những
cải cách chính trị cần phải được tiến hành đúng mức và thích hợp với Việt
Nam trong thời kỳ chuyển tiếp. Hội nhập thành công không thể là một hiện
tượng bị đồng hóa mà phải là một quá tŕnh thích ứng có sáng tạo, tự phong
phú hóa mà không bị mất bản sắc, đồng thời có khả năng đóng góp vào nền
hoà b́nh và thịnh vượng chung trong khu vực hay toàn thế giới. Quan niệm
về một thể chế dân chủ thích hợp với Việt Nam là một vấn đề cần được trao
đổi, thảo luận trong tinh thần xây dựng và thực tế. Tuy nhiên, một
khi đă xác định được một lộ tŕnh thích hợp, Việt
Nam phải quyết tâm tiến bước
trên lộ tŕnh đó chứ không thể vừa tiến vừa lùi.
Trong khi chờ đợi, những nguyên tắc căn bản của dân chủ vẫn phải được tôn
trọng, dù có thể chưa thực hiện được hoàn toàn. Một cách cụ thể, nhà nước
cần phải ngưng bắt bớ những người kêu gọi cải tổ ôn hoà, và phóng thích
những người đă bị bắt.
Thế nào là một lộ tŕnh dân
chủ hoá thích hợp, thế nào là thích ứng có sáng tạo, làm sao thiết lập
được những kế hoạch cải tổ và chương tŕnh phát triển kinh tế, giáo dục,
văn hóa, xă hội, làm sao động viên được các nguồn nhân lực và tài lực ở
ngoài nước vào việc thực hiện những chương tŕnh đó? Những câu hỏi này chỉ
có thể được giải đáp thích đáng nếu có sự tham khảo giữa những nhà làm
chính sách và những trí thức, chuyên gia thiện chí ở nước ngoài. Và việc
này chỉ thật sự có kết quả tốt nếu hai bên đều đồng t́nh khép lại trang sử
đau thương, vượt qua những trở ngại tâm lư và chính trị, và sẵn sàng hợp
tác v́ lợi ích chung của dân tộc. Đây chính là vấn đề ḥa giải dân tộc hay
b́nh thường hoá quan hệ giữa trong và ngoài nước được đề cập trong phạm vi
của bài này.
Trước viễn tượng
phát triển nhanh chóng của vùng Đông Nam Á và nhu cầu an ninh khu vực sau
thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Hoa kỳ và Việt Nam đều nhận thấy có những mối
quan tâm chung và sự cần thiết phải hoà giải và hợp tác có lợi cho cả đôi
bên. Do đó, hai nước đă quyết định bỏ quá khứ lại đàng sau để hướng về
tương lai và thiết lập các quan hệ song phương. Trong khi giới lănh đạo và
trí thức Hoa kỳ đă cố gắng rút ra nhiều bài học lịch sử để hoạch định
chính sách và các chương tŕnh hợp tác với Việt Nam, số đông người
Việt Nam ở hải ngoại (mà một nửa là ở Hoa kỳ) vẫn không muốn đề cập đến
vấn đề quan hệ với chế độ chính trị ở trong nước, phần v́ chưa thể quên
được niềm thù hận cũ và phần quan trọng hơn là không thể tin tưởng ở sự
thành thật của những nhà lănh đạo cộng sản. Đây là một nỗi bất
hạnh to lớn chung cho tất cả mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, làm
suy yếu nội lực và giảm thiểu những cơ hội phát triển của cả hai bên.
Ở Hoa kỳ, trừ trường hợp Cuba
và Việt Nam, tất cả những cộng đồng người Mỹ gốc ngoại quốc đều có quan hệ
hợp tác chặt chẽ với xứ sở gốc của họ cho nên cả hai bên đều dễ dàng trở
nên giàu mạnh. Trường hợp người Mỹ gốc Nhật là một thí dụ điển h́nh.[Lí do
ra đi của họ hoàn toàn khác với ngừơi Việt]. Nhiều doanh nhân Mỹ gốc Nhật
đă liên doanh với những công ty lớn ở trong nước để khai thác thị trường
Mỹ, kể cả việc mua bán địa ốc hoặc mua lại những cơ sở kinh doanh hay kỹ
nghệ sản xuất ở các thành phố lớn. Ngược lại, chính phủ Nhật cũng được
cộng đồng người Mỹ gốc Nhật đóng góp một phần quan trọng vào công cuộc vận
động chính quyền và Quốc hội Mỹ nhằm cải thiện không ngừng các quan hệ hợp
tác giữa hai nước. Các hoạt động văn hoá như triển lăm tranh ảnh hay tŕnh
diễn âm nhạc đều được người Mỹ gốc Nhật tham gia tổ chức và giới thiệu với
các cộng đồng bạn một cách hănh diện. Những cộng đồng người Mỹ gốc Đại Hàn,
Phi-líp-pin, Ấn độ, Thái lan, v.v. đều có những quan hệ tốt đẹp tương tự
với quê hương cũ của họ. Thật là một cảnh tượng đáng buồn khi thấy các
phái đoàn chính phủ Việt Nam đi công tác và các nghệ sĩ đi tŕnh diễn ở
Hoa kỳ, thay v́ được cộng đồng người Mỹ gốc Việt vui vẻ đón chào, đă gặp
phải những cuộc biểu t́nh chống đối kịch liệt. Có những buổi hội thảo về
kinh tế mà các nhân vật tham dự phải được nhân viên an ninh Mỹ hộ tống khi
đến cũng như khi về, và đă phải dùng cửa phụ thay v́ cửa chính. Một số
buổi tŕnh diễn ca nhạc của nghệ sĩ trong nước, dù hoàn toàn phi chính trị,
vẫn bị chống đối v́ lư do
“tuyên
truyền cho cộng sản”
nên đă phải băi bỏ vào giờ chót. T́nh trạng này cần được chấm dứt sớm
chừng nào hay chừng nấy.
Trước sự chuyển hướng
trong bang giao quốc tế và sự gia tăng các quan hệ Mỹ-Việt, trước những
quan tâm chung cho tương lai của Việt Nam trong khu vực Á châu-Thái B́nh
dương, đă đến lúc phải có những thay đổi căn bản trong tư duy và hành động
ở cả hai phía -cộng đồng người Việt ở nước ngoài và giới lănh đạo chính
trị ở trong nước- để có thể tiến đến việc b́nh thường hóa các quan hệ qua
những h́nh thức trao đổi và hợp tác thích hợp.
Vấn đề này được đặt ra trên
một tiền đề vững chắc là công cuộc đổi mới ở Việt Nam là một tiến tŕnh
không thể đảo ngược, và điều kiện tất yếu là những cuộc cải cách phải được
thực hiện từng bước vững chắc và không thể gây nên xáo trộn. Nhưng cũng
phải nói thêm rằng v́ Việt
Nam
c̣n tụt hậu ít ra là vài ba chục năm so với những con rồng Đông Nam Á nên
những bước cải cách của nhà nước dù không phải là nhảy vọt cũng cần đủ
nhanh để có thể rút ngắn thời gian tụt hậu đó. Sự so sánh sau đây về lợi
tức tính trên đầu người vào năm 2001 là một thí dụ cho thấy rơ t́nh trạng
chênh lệch giữa Việt Nam và một số nước khác trong khu vực (tất cả các con
số là bằng đô-la Mỹ): Việt Nam, 410; Trung quốc, 890; Thái lan, 1940;
Ma-lay-xia, 3330; Đại Hàn, 9460; Singapore, 21500.[8]
Nên biết rằng trước năm 1975, Đại Hàn cũng chỉ ngang tầm với Việt Nam Cộng
Ḥa (Nam Việt Nam). Vậy nếu Hiệp định Paris 1973 được nghiêm chỉnh thi
hành và nếu miền Nam thật sự có một chính phủ hoà giải ḥa hợp dân tộc, có
quan hệ tốt với miền Bắc trong khi chờ đợi thống nhất đất nước, lợi tức
tính trên đầu người ở Việt Nam ngày nay có thể không thua Đại Hàn, và chắc
chắn không thể bị Đại Hàn vượt xa đến hơn hai chục lần.
Thực tế phức tạp trong cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng như thái độ nghi ngại của nhà cầm
quyền ở trong nước như hiện nay cho thấy mục tiêu ḥa giải và quan hệ b́nh
thường giữa hai bên không thể thực hiện được dễ dàng và mau chóng. Mục
tiêu này chỉ có thể đạt được khi hai bên đă sẵn sàng khép lại trang sử đau
thương, vượt qua những trở ngại tâm lư và chính trị đă in sâu trong tâm
trí của ít nhất là hai thế hệ từ Cách mạng tháng Tám 1945 cho đến nay.
Quyết định ḥa giải v́ quyền lợi tối thượng của tổ quốc và dân tộc Việt
Nam là một quyết định lịch sử đ̣i hỏi rất nhiều thiện chí và can đảm của
cả hai bên. Quyết định này sẽ đạt được nếu cả hai bên đều nh́n nhận rằng
bản chất của hai cuộc chiến trong ba mươi năm là chiến tranh huynh đệ
tương tàn v́ lư tưởng khác nhau đồng thời cũng là chiến tranh ủy nhiệm do
sự tranh giành ảnh hưởng quốc tế giữa hai khối tư bản và cộng sản. Dĩ
nhiên là trong lúc chiến tranh, các phe lâm chiến đều có những sai lầm và
bỏ lỡ nhiều cơ hội ḥa b́nh. Khi có điều kiện và cơ hội để chiến
thắng th́ phe thắng trận lại có những biện pháp đối xử sai lầm đối với phe
thua trận, vừa làm mất đi một nửa nguồn nhân lực có khả năng đóng góp vào
công cuộc tái thiết và phát triển xứ sở vừa gây nỗi oán hờn chồng chất và
lâu dài trong ḷng của những người c̣n sống sót và thân nhân của họ, trong
và ngoài nước.
Khi kêu gọi người Việt Nam tị
nạn ở nước ngoài hăy quên chuyện quá khứ để hướng về tương lai, tham gia
tích cực vào các chương tŕnh nhân đạo và phát triển, các nhà làm chính
sách ở trong nước cũng đă áp dụng một số biện pháp đối xử thích hợp, mặc
dù c̣n hạn chế, đối với những người trở về nước để giúp đỡ nhân đạo hay kỹ
thuật, hoạt động kinh doanh, hay chỉ để thăm thân nhân hay du lịch. Những
lời kêu gọi và biện pháp đối xử ấy có thể đă biểu lộ sự mặc nhiên nh́n
nhận chính sách sai lầm đối với miền Nam sau khi thống nhất và thái độ
mong muốn hoà giải của các nhà lănh đạo trong nước đối với cộng đồng người
Việt ở nước ngoài. Tuy nhiên, những lời kêu gọi đoàn kết và những biện
pháp đối xử đó vẫn chưa thể hiện một chính sách ḥa giải và đối xử b́nh
đẳng thật sự nên vẫn có thể bị hiểu là chỉ có mục đích khai thác nguồn tài
chánh và
“chất
xám”
của ba triệu người Việt Nam định cư ở các quốc gia tiến bộ trên thế giới -một
sự tiếp thu một chiều theo ư muốn của nhà nước. Kêu gọi ḥa giải và thi
hành một số biện pháp thỏa măn lợi ích vật chất không đủ khả năng thuyết
phục những người có kinh nghiệm chống đối hay hợp tác với nhà cầm quyền
cộng sản trong quá khứ, nhất là những nạn nhân của chính sách
“học
tập cải tạo”
và
“vùng
kinh tế mới”
sau 1975. Do đó, muốn thật sự có hiệu lực, chính sách ḥa giải dân tộc
phải có khả năng
“hóa
giải”
những hận thù, bất măn và nghi kỵ chất chứa trong ḷng những người đang
chống đối. Nói rơ hơn, thay v́ chỉ kêu gọi đóng góp và ban phát một
số quyền lợi, các nhà lănh đạo trong nước cần thẳng thắn nh́n nhận những
sai lầm trong quá khứ và có những biện pháp đối xử b́nh đẳng thật sự,
không phải chỉ về mặt vật chất mà quan trọng hơn nữa là về mặt tinh thần,
không phải chỉ đối với những người đă định cư ở nước ngoài mà với cả những
người c̣n ở lại trong nước, không phải chỉ đối với những người c̣n sống mà
với cả những người đă khuất.
Về phía cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài, cũng cần sẵn sàng nh́n nhận những sai lầm và nhược điểm
của các tổ chức chính trị và các chính quyền quốc gia từ trước năm 1945.
V́ thiếu kinh nghiệm cách mạng và tinh thần đoàn kết, các lănh tụ quốc gia
dù có nhiều người nhiệt thành yêu nước đă không có đủ điều kiện khách quan
và chủ quan để lănh đạo dân tộc trong cuộc tranh đấu chống Pháp giành độc
lập cũng như đă để mất chính nghĩa trong một cuộc chiến tranh tàn khốc để
bảo vệ một miền Nam không cộng sản. Đầu óc phong kiến cổ truyền cộng với
tư tưởng tự do của Tây phương tạo nên một lề lối sinh hoạt dân chủ nửa vời
khiến cho phe Việt Nam quốc gia có nhiều lănh tụ chính trị, nhiều đảng
phái, có khuynh hướng độc tôn hơn là tôn trọng các nguyên tắc dân chủ. Mọi
cố gắng kết hợp thành một liên minh chính trị để đối phó với Pháp hay cộng
sản đều chỉ thành công ở lúc đầu và không bao lâu đều tan ră v́ chính kiến
bất đồng hay sự tranh giành ảnh hưởng của các lănh tụ.[9]
So với Đảng Cộng sản với hệ thống tổ chức chặt chẽ trong và ngoài Đảng,
với kinh nghiệm hoạt động quốc tế, phương pháp đào tạo cán bộ và quân đội
thành những con người tuyệt đối tuân hành mệnh lệnh của lănh đạo, cộng với
nghệ thuật tuyên truyền lôi cuốn quần chúng, các tổ chức chính trị quốc
gia nhất định không có đủ khả năng đối phó. Chính nghĩa quốc gia trong cả
hai cuộc chiến cũng v́ thế mà mất vào tay Đảng Cộng sản dưới h́nh thức Mặt
trận Việt minh và Mặt trận Giải phóng Miền Nam.
Gần ba mươi năm sau cuộc
chiến, thái độ tự hào của kẻ chiến thắng cũng như niềm thù hận của kẻ
chiến bại đều không c̣n có lư do nuôi dưỡng. Sau khi thống nhất đất
nước, chính phủ Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam đă có những chính sách
sai lầm về kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao khiến cho toàn dân
lâm vào t́nh trạng đói khổ và đất nước bị tụt hậu hai, ba mươi năm so với
những nước không cộng sản trong vùng Đông Nam Á. T́nh trạng này
chỉ bắt đầu được cải thiện từ cuối thập kỷ 1980 sau khi Nhà nước áp dụng
chính sách
“đổi
mới”
để đi vào con đường kinh tế thị trường và hội nhập với cộng đồng quốc tế.
Để có thể bảo đảm cho ḿnh một vai tṛ quan trọng và lâu bền trong khu vực
Châu Á-Thái B́nh dương, trước sự lớn mạnh đáng lo ngại của Trung quốc về
kinh tế và quân sự, Việt Nam cần phải sớm thành công trong tiến tŕnh hội
nhập, thiết lập và phát triển được những quan hệ hợp tác chặt chẽ với Hoa
kỳ và các nước dân chủ tiến bộ trên thế giới. Tiến tŕnh này sẽ có thể
hoàn tất được mau chóng nếu có sự hỗ trợ đắc lực của các cộng đồng người
Việt Nam đă có chân đứng vững chắc ở những quốc gia tiến bộ, đặc biệt là
Hoa kỳ và Châu Âu.
Các nhà lănh đạo ở Việt
Nam đă ư thức rơ được điều này từ nhiều năm qua, nhưng vẫn chưa có quyết
tâm vượt thắng được hai trở ngại tâm lư chính: ḷng tự ái quá cao không
muốn nh́n nhận những sai lầm trong quá khứ, và nỗi lo ngại bị lật đổ nếu
rời bỏ nền tảng lư thuyết và cấu trúc quyền lực hiện nay, dù đă lỗi thời,
để thực hiện những bước đổi mới cần thiết về chính trị.
Thật ra, nh́n nhận những sai
lầm đă qua không có nghĩa là phủ nhận thành tích chiến thắng của ḿnh v́
chính những sai lầm ấy đă làm mất đi giá trị của chiến thắng và bỏ lỡ cơ
hội động viên được khả năng của toàn dân vào công cuộc tái thiết thời hậu
chiến. Người Việt quốc gia thua người Việt cộng sản v́ nhiều lư do, nhưng
nhất định không phải v́ không có ḷng yêu nước. Không thể nói rằng, ngoài
Đảng Cộng sản ra, Việt Nam không có những nhà cách mạng đă trọn đời tranh
đấu và đă chết cho độc lập và tự do của dân tộc. Cũng không có đảng viên
cộng sản nào có thể phủ nhận sự kiện Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh), trước
khi trở thành người cộng sản, đă là một thanh niên yêu nước noi gương các
tiền bối Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Khi theo đuổi những lư tưởng
khác nhau và xảy ra xung đột, hai bên có thể buộc tội nhau nặng nề và gán
cho nhau những từ ngữ tồi tệ nhất. Nhưng khi chiến tranh đă chấm dứt với
sự toàn thắng của một bên th́ ḥa giải dân tộc và đối xử b́nh đẳng là
chính sách sáng suốt nhất để phục hồi sinh lực của đất nước và đem lại
thái b́nh và hạnh phúc cho mọi thành phần dân tộc. Như vậy, khi nh́n nhận
những sai lầm khó tránh trong một giai đoạn nhất định của lịch sử, nhà cầm
quyền có thể hóa giải được những nỗi bất măn hay thù hận của những người
đă bỏ nước ra đi hay c̣n ở lại trong nước, đặc biệt là chuyển đổi được
những hoạt động chống đối của cộng đồng người Việt ở nước ngoài thành
những đóng góp xây dựng. Có quyết tâm tự vượt để hoá giải hận thù th́ việc
kêu gọi bỏ qua quá khứ để hướng về tương lai mới có ư nghĩa. Như cổ nhân
đă dạy
“Thắng
người chỉ là sức, thắng được chính ḿnh mới là mạnh”
(Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường). Nhân dân và lịch sử sẽ phán xét
khả năng tự vượt và tinh thần trách nhiệm của những người lănh đạo trong
giai đoạn lịch sử này.
Khi hận thù đă được hóa giải
th́ ḥa giải dân tộc đương nhiên sẽ thành tựu và nỗi lo ngại về
“âm
mưu diễn biến ḥa b́nh của các thế lực thù địch”
cũng không có lư do tồn tại. Vấn đề duy nhất c̣n lại là thực hiện những
bước đổi mới cần thiết về chính trị. Đây là một vấn đề rất quan trọng đ̣i
hỏi việc xác định một lộ tŕnh dân chủ hoá vừa thích hợp với đặc tính của
dân tộc Việt Nam vừa tiến triển nhịp nhàng với chiều hướng toàn cầu hóa.
Công việc này cần có sự tham khảo ư kiến của những người quan tâm đến vận
mệnh tương lai của Việt Nam, cả ở trong lẫn ngoài nước. Khi xúc tiến việc
thiết lập và thực hiện lộ tŕnh dân chủ hoá cho Việt Nam, chính quyền sẽ
đương nhiên gia tăng được uy tín của ḿnh trong vai tṛ phối trí mọi sự
đóng góp của các thành phần dân tộc.
Về phía cộng đồng hải ngoại,
v́ quyền lợi chung của đất nước và dân tộc, cũng cần có quyết tâm bỏ qua
những niềm thù hận trong quá khứ để góp phần xây dựng một nước Việt Nam
dân chủ, phú cường trong cộng đồng quốc tế, không phải quá lo ngại về mối
đe dọa của láng giềng phương Bắc. Quyết tâm này cũng đ̣i hỏi khả năng tự
vượt và tinh thần trách nhiệm của những người quốc gia, nhất là những
người đă từng là nạn nhân của phe chiến thắng sau khi miền Nam bị đánh bại.
Thực tế đă cho thấy là, mọi cố gắng lật đổ chính quyền bằng bạo lực đều
thất bại v́ không phải là con đường lựa chọn của nhân dân trong nước, dù
bất măn với chế độ, đă quá chán ghét chiến tranh và không thể tin tưởng ở
sức mạnh quân sự của người Việt Nam tị nạn. Những cuộc vận động chính trị
nhằm thay thế chế độ đương quyền ở Việt
Nam
sẽ không c̣n được Hoa kỳ hay một thế lực quốc tế nào ủng hộ. Có lẽ chỉ c̣n
Trung quốc là sẵn sàng hỗ trợ những hoạt động phá rối và cản trở sự phát
triển của Việt Nam. Những cuộc biểu t́nh và những bản tuyên ngôn chống
Cộng hùng hồn cũng chỉ c̣n là những h́nh thức phát biểu nhất thời và không
mấy hiệu lực. Chỉ trong thời gian gần đây, khi những cuộc tranh đấu
và vận động được tập trung vào vấn đề cải thiện t́nh trạng nhân quyền ở
Việt Nam th́ mới thấy có sự hỗ trợ, dù c̣n giới hạn, của chính phủ và Quốc
hội Hoa kỳ, của Liên hiệp Châu Âu và các tổ chức quốc tế v́ tính chất
chính đáng của vấn đề. Những cuộc vận động hợp pháp và hợp lư này cũng dễ
được sự đồng t́nh của đa số trong cộng đồng -cho đến nay vẫn là
“đa
số thầm lặng”
không tán thành các hoạt động cực đoan.
Nhà cầm quyền trong nước dù có bực bội tới đâu cũng không thể không nhận
thấy sự chuyển hướng tranh đấu của cộng đồng hải ngoại, từ quá khích sang
ôn ḥa, và hiệu lực lâu dài của cách tiếp cận mới này. Nhà nước sẽ thấy
cần phải có những đáp ứng thích hợp, và quan trọng hơn nữa, cần thực sự
ḥa giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Một khi bên trong đă có
những bước tiến cụ thể, bên ngoài cũng đến lượt phải đáp ứng thích hợp.
Thực tế cũng cho thấy là chủ
nghĩa cộng sản đă trở thành chuyện đă qua và bốn nước cộng sản c̣n lại
trên thế giới cũng đều đang t́m cách thích ứng với những điều kiện kinh tế
chính trị mới của toàn cầu, mạnh ai nấy lo, không c̣n nhắc nhở ǵ đến lư
thuyết
“đấu
tranh giai cấp”
và
“cách
mạng vô sản toàn thế giới.”
Nhà nước cộng sản Việt Nam đă lựa chọn con đường đổi mới để có thể đưa đất
nước ra khỏi t́nh trạng nghèo đói và đạt được mục tiêu mong muốn là
“dân
giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh.”
Sự đóng góp quan trọng của cộng đồng hải ngoại vào công cuộc phục hồi sinh
lực của dân tộc và giúp cho Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ, phú
cường trong khu vực sẽ phải được nhà cầm quyền trong nước hoan nghênh và
sẽ được lịch sử ghi nhận và đánh giá xứng đáng.
Tiến tŕnh ḥa giải có thể
được thực hiện qua những cuộc tiếp xúc, trao đổi thẳng thắn và xây dựng về
những vấn đề quan tâm chung, như đă từng diễn ra trong mấy năm qua giữa
vài ba phái đoàn Việt Nam và một số trí thức người Mỹ gốc Việt nhân dịp
các phái đoàn này đi công tác ở Hoa kỳ. Cho đến nay, những cuộc tiếp xúc
như thế vẫn không ngoài nhiệm vụ thông tin, thăm ḍ khả năng đóng góp chất
xám của trí thức và chuyên gia ở ngoài nước, đồng thời ghi nhận những ư
kiến và đề nghị của những nhóm này. Những cuộc trao đổi thẳng thắn và xây
dựng, ngay cả những điều than phiền, đă được diễn ra trong một không khí
lịch sự và cởi mở, nhất là khi những nhân vật cầm đầu phái đoàn trong nước
phát biểu là sẵn sàng lắng nghe những ư kiến khác biệt. Tuy nhiên, kết quả
của những cuộc tiếp xúc này chưa có ǵ đáng kể ngoài việc cải thiện một số
thủ tục hành chánh như việc cấp thị thực (visa) cho công dân Mỹ gốc Việt
bằng cách ghi thẳng vào hộ chiếu (passport) thay v́ bằng một tờ thị thực
rời, cho phép mua nhà ở và sử dụng đất, và đối xử b́nh đẳng về giá vé máy
bay nội địa. Những cuộc tiếp xúc tham khảo này cần phải được tiếp tục và
mở rộng và những nhận xét hay đề nghị có lợi ích cho đất nước đều phải
được chính quyền xem xét nghiêm chỉnh để thiết lập thành chiùnh sách và
chương tŕnh thực hiện.
Vấn
đề đặt ra là nhà cầm quyền trong nước có thật t́nh muốn hoà giải với cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài hay không?
Cho đến nay, qua những lời kêu gọi
“xoá
bỏ mặc cảm quá khứ để hướng về tương lai,”
qua những lời khen ngợi những người đă có công đóng góp, qua một số biện
pháp có tính cách ban ơn, và thái độ lạnh nhạt đối với những đề nghị được
“ghi
nhận để cứu xét,”
câu trả lời là các nhà lănh đạo chính trị ở Hà Nội chưa thật t́nh
nghĩ đến việc ḥa giải với cộng đồng hải ngoại. Trong thâm tâm,
nhà cầm quyền trong nước vẫn coi những người đă bỏ đi tị nạn ở nước ngoài
là những kẻ bại trận và có tội nay cần được chiêu hồi v́ họ có khả năng
đóng góp quan trọng cho công cuộc phục hồi sinh lực và phát triển xứ sở.
Những đóng góp này cũng chỉ được chấp nhận theo nhu cầu nhất định của nhà
cầm quyền. Mọi yêu cầu hay đề nghị không phù hợp với ư muốn của
chính quyền sẽ bị coi là không thể chấp nhận được hoặc bị nghi ngờ là nằm
trong âm mưu diễn biến ḥa b́nh. Ngay cả những đề nghị ḥa giải
cần thiết và dễ thực hiện nhất như giúp đỡ hay cho phép sửa sang lại nghĩa
trang quân đội miền Nam và hợp tác trao đổi về văn học nghệ thuật vẫn chưa
có đáp ứng sau khi được
“ghi
nhận để cứu xét”.
Các đại diện chính quyền khi tiếp xúc với những người có thiện chí ở nước
ngoài đă chỉ làm công việc kêu gọi sự đóng góp một chiều theo chỉ thị của
Đảng và Nhà nước với những hứa hẹn đối xử b́nh đẳng về quyền lợi vật chất
so với người dân trong nước. V́ kỷ luật nội bộ, những ư kiến xây dựng từ
bên ngoài, dù có được các đoàn đại diện này tán thành, không chắc đă được
đề nghị lên cho các bộ phận có thẩm quyền cứu xét và chấp thuận.
Một trường hợp nổi
bật nhất cần được nói đến là dự định tổ chức
“Diễn
đàn Trí thức Việt Nam góp Ư kiến Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc”
do Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc quyết
định từ mùa Hè 2003. Diễn đàn được chuẩn bị tổ chức tại Trung tâm Hội nghị
Quốc tế ở Hà Nội từ 29 đến 31 tháng Giêng 2004 (ngay sau Tết Giáp Thân.)
Ban tổ chức cho biết:
“Diễn
đàn là một sinh hoạt khoa học của giới trí thức trong và ngoài nước nhằm
phát huy truyền thống đoàn kết yêu nước, ư thức tự hào dân tộc của trí
thức Việt Nam, trao đổi và đóng góp ư kiến vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ tổ quốc, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước,
v́ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh.”
Nội dung của Diễn đàn gồm ba điểm chính (theo nguyên văn):
1. Xuất phát từ kinh nghiệm
thực tiễn của Việt Nam và thế giới, đề xuất các kiến nghị cụ thể và thiết
thực, đóng góp vào việc hoạch định và tổ chức thực hiện các đường lối,
chính sách và luật pháp trên các lĩnh vực của đời sống xă hội, nhằm đẩy
mạnh công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xă hội, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân, bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc.
2. Thảo luận và đóng góp ư
kiến về những chủ trương, giải pháp nhằm
“nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”,
phát huy tiềm năng trí tuệ của dân tộc, nâng cao chất lượng và hiệu quả
của hệ thống giáo dục quốc dân, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển khoa học và
công nghệ của đất nước trong giai đoạn hiện nay và những thập kỷ tiếp theo.
3. Thảo luận và đóng góp ư
kiến về những chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm động viên tốt hơn
sự cống hiến của giới trí thức Việt Nam ở trong nước cũng như đang ở nước
ngoài vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đưa Việt Nam sớm trở
thành một nước công nghiệp hiện đại.
Nội dung này sẽ được gom vào
ba chủ đề lớn được thảo luận trong ba tiểu ban: các vấn đề chính trị, văn
hóa, xă hội; các vấn đề giáo dục-đào tạo và phát triển khoa học-công nghệ;
các vấn đề phát triển kinh tế.
Giấy mời
tham dự Diễn đàn được các Đại sứ quán Việt Nam ở ngoại quốc gửi đến một số
trí thức và chuyên gia Việt Nam định cư ở nước ngoài khoảng cuối tháng
Chín và được biết có nhiều người đă nhận lời tham dự. Bỗng nhiên đến đầu
tháng Mười Một th́ công việc tổ chức Diễn đàn này bị hoăn vô hạn định v́
“có
nhiều việc quan trọng khác phải giải quyết.”
Một Diễn đàn trí
thức như vậy lẽ ra phải được thực hiện như một hoạt động ưu tiên của chính
phủ v́ đây là cơ hội tập hợp được nhiều nhân tài có thiện chí ở trong và
ngoài nước cùng nhau trao đổi những kinh nghiệm của Việt Nam và thế giới,
đóng góp vào việc thiết lập các chính sách và kế hoạch phát triển đất nước
về mọi mặt, đưa Việt Nam vào hàng ngũ của những quốc gia hàng đầu trong
khu vực. Diễn đàn này có thể chưa thật sự thuận tiện cho những người có
thiện chí phát biểu thẳng thắn và công khai những ư kiến xây dựng của ḿnh,
nhưng ít nhất cũng là một bước quan trọng mở đầu cho những h́nh thức sinh
hoạt có khả năng huy động mọi tài năng vào công cuộc phát triển và bảo vệ
xứ sở. Việc băi bỏ diễn đàn này một lần nữa cho thấy sự giằng co
giữa hai khuynh hướng tiến bộ và bảo thủ trong tầng lớp lănh đạo hiện thời
ở Việt
Nam mà rốt cuộc phe bảo thủ vẫn nắm được ưu thế.
Đây là một quyết định rất tai hại làm cản trở những bước tiến cần thiết
của dân tộc chỉ v́ tầm nh́n thiển cận và nỗi lo ngại của những người muốn
duy tŕ độc quyền lănh đạo của Đảng Cộng sản.
Có một số lư do khiến
những người bảo thủ nghĩ rằng việc tham khảo ư kiến của người Việt hải
ngoại là không cần thiết.
Trước hết vẫn là thái độ chủ quan và tự hào của kẻ chiến thắng tin rằng
ḿnh đă đánh bại được kẻ thù mạnh nhất trên thế giới th́ việc ǵ khó đến
đâu cũng sẽ làm được, bởi thế không cần phải
“hạ
ḿnh”
hỏi ư kiến của kẻ chiến bại. Thứ hai là thái độ nghi ngờ rằng những đóng
góp của bên ngoài về việc
“hoạch
định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách và luật pháp trên các lĩnh
vực của đời sống xă hội”
(như đă nêu ra trong nội dung của Diễn đàn) đều không phải v́ thiện chí mà
nằm trong
“âm
mưu diễn biến ḥa b́nh”
nhằm lật đổ chế độ. Thứ ba là nhận định cho rằng, ngoài số tiền lớn chuyển
về nước, việc đóng góp
“chất
xám”
của người Việt hải ngoại trên thực tế cũng đă có rồi. Công cuộc chuyển
giao trí thức và công nghệ của nhân tài ở nước ngoài, dù có thể chậm, vẫn
sẽ tiếp diễn theo con đường một chiều. Như vậy, không cần phải có những
cuộc tham khảo nghiêm chỉnh với người ở bên ngoài về những vấn đề quan tâm
chung và những phương cách giải quyết. Mỗi năm, vào dịp Tết, chỉ cần có
một buổi tiếp tân để các quan chức nhà nước gặp gỡ bà con về thăm quê
hương, khen ngợi và khuyến khích những đóng góp t́nh nghĩa của
“khúc
ruột xa ngàn dặm.”
Nếu lâu lâu có phái đoàn trong nước tiếp xúc với những nhóm trí thức và
chuyên gia ở nước ngoài nhân những chuyến đi công tác th́ cũng chỉ có
nhiệm vụ thông báo đường lối chính sách của chính phủ, sau đó sẽ ghi nhận
các ư kiến và đề nghị. Chính phủ có thể sẽ tùy tiện ban hành một số biện
pháp hành chánh để thoả măn những điều yêu cầu nào xét ra là vô hại.
Quả thật ở hải ngoại, có
nhiều người, nhất là trong giới trí thức trẻ, từ nhiều năm qua đă gạt bỏ
vấn đề chính trị sang một bên để chỉ quan tâm đến những việc làm bất vụ
lợi về nhân đạo (y tế, giáo dục, xă hội) hay phát triển (lănh đạo & quản
trị, hành chánh & pháp lư, khoa học & kỹ thuật.) Họ là những người không
thể làm ngơ trước cảnh tượng nghèo đói, bệnh tật của đa số dân chúng ở
Việt Nam, họ cũng không muốn tiếp tục chứng kiến một nước Việt Nam tụt hậu
hàng chục năm sau những quốc gia lân bang như Thái lan, Mă-Lai, Phi-líp-pin.
Những việc làm của họ đem lại lợi ích trực tiếp và cụ thể cho dân chúng,
rất đáng được khuyến khích và ủng hộ. Ngay cả những người trở về nước để
hoạt động kinh doanh hay đầu tư cũng không nên bị chỉ trích, v́ nói chung
và trong lâu dài, sự tham gia của người gốc Việt ở hải ngoại và môi trường
kinh doanh ở Việt Nam vẫn có lợi ích cho đất nước hơn là những doanh nhân
ngoại quốc mà mục đích của họ chỉ hoàn toàn là khai thác và trục lợi. Tất
nhiên không phải tất cả những người về làm ăn đều có thể thành công, nhất
là khi nhà nước chưa có đầy đủ các thủ tục và luật lệ minh bạch và chưa
kiểm soát được tệ nạn tham nhũng, nhưng t́nh h́nh sẽ phải được cải thiện
cùng với việc thi hành những hiệp định thương mại mà Việt Nam đă kư kết
với nước ngoài và sự giao thiệp với các công ty ngoại quốc càng ngày càng
nhiều hơn.
Tất cả những loại hoạt động
này của người Việt hải ngoại, dù có lợi cho nhà cầm quyền trong nước, đều
được bù lại nhiều hơn bằng những ảnh hưởng tích cực vào tiến tŕnh đổi mới
không thể đảo ngược mà ngay cả những nhà lănh đạo bảo thủ cũng phải chấp
nhận. Những hoạt động nhân đạo trực tiếp như cứu trợ nạn nhân băo lụt,
cung cấp xe lăn và chân tay nhân tạo cho nạn nhân chiến tranh, học bổng
cho trẻ em, vốn cho vay nhỏ cho phụ nữ miền quê, v. v. đều có tác dụng rất
lớn vào việc gia tăng sự hiểu biết của người dân trong nước về khả năng và
thiện chí của người bên ngoài, về quyền của họ được giúp đỡ để nâng cao
đời sống và về trách nhiệm của chính phủ. Những khóa huấn luyện về kinh tế
tài chánh hay công nghệ thông tin sẽ đem lại cho các chuyên viên và thanh
niên trí thức những lư thuyết và kỹ thuật tiến bộ trên thế giới để thay
đổi cuộc sống thực tế ở Việt Nam. Những hoạt động kinh doanh của các công
ty do người Việt Nam ở nước ngoài thành lập, cũng như các công ty của
người ngoại quốc, sẽ tạo công ăn việc làm cho người trong nước với mức
lương và quyền lợi cao hơn trung b́nh, du nhập những kỹ thuật tổ chức, sản
xuất và quản lư theo lề lối kinh tế thị trường. Đặc biệt là quyền tư hữu
sẽ được tôn trọng, dẫn tới việc đào thải hệ thống công ty quốc doanh trong
một nền kinh tế tập trung mà nay đang bị đẩy lùi vào dĩ văng.
V́ những lẽ trên, cộng đồng
người Việt hải ngoại nên tiếp tục tham gia vào tiến tŕnh đổi mới ở Việt
Nam càng ngày càng nhiều hơn, không cần phải chờ đến khi nhà cầm quyền
trong nước thực hiện cuộc đại ḥa giải và ḥa hợp dân tộc. Mặc dù cho đến
nay nhà cầm quyền trong nước chỉ quan tâm đến việc duy tŕ quyền lực hơn
là hoà giải, tiến tŕnh đổi mới vẫn sẽ tiếp tục, và việc làm thực tế và có
ư nghĩa nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho đất nước được
giàu, mạnh, dân chủ và tiến bộ. Trừ trường hợp bất ngờ, thời gian chuyển
tiếp từ đổi mới kinh tế sang đổi mới chính trị có thể phải chờ cho đến khi
có một thế hệ lănh đạo trẻ hơn và hiểu biết hơn. Để cho thời gian chuyển
tiếp tiến hành tốt đẹp, những đóng góp thầm lặng và lẻ tẻ của những nhóm
thiện chí cần phải trở nên công khai, chính thức và mở rộng trên mọi lĩnh
vực. Các chương tŕnh phát triển cũng phải được hoạch định qui mô và dài
hạn. Những cuộc hội thoại giữa đôi bên về nội dung và thể thức thực hiện
những chương tŕnh ấy trên căn bản quyền lợi chung của dân tộc, như mục
đích của
“Diễn
đàn Trí thức”
đă nói ở trên, càng trở nên cần thiết. Đối với những người có thiện chí ở
trong và ngoài nước, đây là những cơ hội hợp tác trong tinh thần hoà giải
dân tộc không thể bỏ lỡ.
Ư thức về nhu cầu đổi mới
chính trị thực ra đă xuất hiện rất sớm ngay trong hàng ngũ lănh đạo chính
trị ở Việt Nam. Điển h́nh cho khuynh hướng này là hai nhân vật trong Bộ
Chính trị: Trần Xuân Bách và Nguyễn Cơ Thạch. Ông Bách là Ủy
viên Bộ Chính Trị kiêm Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, từng được
đề cử vào chức vụ Tổng Bí thư, nhưng bị tước hết chức vụ vào tháng Tư 1990
v́ đă kêu gọi đa nguyên đa đảng trong một buổi nói chuyện tại trường
Nguyễn Ái Quốc. Ông Thạch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ
trưởng Ngoại giao, trong bài diễn văn đọc trước Đại Hội đồng Liên Hiệp
quốc tháng Mười 1990, đă thẳng thắn nh́n nhận
“sai
lầm căn bản”
trong đường lối lănh đạo:
“Mục
đích của chúng tôi là xây dựng một xă hội v́ dân, nhưng trên thực tế đây
là một xă hội của nhà nước và do nhà nước.”
Và ông khẳng định:
“Rơ
ràng là việc xây dựng một xă hội của dân, do dân và v́ dân đ̣i hỏi phải
đổi mới không chỉ về kinh tế mà trên mọi lĩnh vực bao gồm kinh tế, xă hội,
văn hoá và chính trị. Cùng với cải cách và tái cấu trúc kinh tế, Việt Nam
đang thực hiện một tiến tŕnh đổi mới từng bước và vững chắc về chính trị.”[10]
Ông Thạch bị buộc phải từ chức và về hưu vào đầu năm 1991. Đă hơn mười năm
qua, không có một nhân vật lănh đạo nào khác lên tiếng về đổi mới chính
trị nữa. Ngoài ra, mọi tiếng nói yêu cầu cải tổ chính trị từ phía nhân dân,
dù là của các đảng viên có uy tín từng giữ những chức vụ cao, cũng đều bị
thẳng tay bóp nghẹt. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là khuynh hướng đổi
mới chính trị trong ban lănh đạo Đảng và Nhà nước đă bị dập tắt, dù rằng
nó chỉ c̣n được phát biểu và thảo luận trong phạm vi nội bộ. V́ không thể
phủ nhận được nhu cầu đổi mới chính trị nên năm 2001 ban lănh đạo mới có
quyết định dung ḥa là đưa thêm mục tiêu
“dân
chủ”
vào đường lối chung của chính phủ.
Đă đến lúc Việt Nam cần hoạch
định một lộ tŕnh dân chủ hóa thích hợp và một chính sách đối ngoại khôn
ngoan vừa bảo vệ được chủ quyền vừa được sự hợp tác và hỗ trợ của quốc tế.
Hàng trăm ngàn trí thức và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, nhất là ở Hoa
kỳ, với những kiến thức nhân văn, khoa học và kỹ thuật hiện đại nhất, chắc
chắn sẽ đóng góp đắc lực vào công cuộc phát triển xứ sở và vận động sự hỗ
trợ của các nước bạn. Vấn đề hiện nay là nhà cầm quyền trong nước cũng
như cộng đồng ở nước ngoài đă có đủ sáng suốt và can đảm vượt lên khỏi
những ám ảnh của quá khứ, đổi mới tư duy và hành động, để có thể tiến đến
việc b́nh thường hóa các quan hệ hay chưa? Điều hiển nhiên là, giữa
đôi bên, trách nhiệm chính trong vấn đề ḥa giải trước hết là thuộc về nhà
cầm quyền ở Việt
Nam. Nói cách khác, trái banh
hiện đang nằm trên sân ở trong nước.
Cầu mong rằng sang Năm Mới
Giáp Thân sẽ xuất hiện những nhà lănh đạo có tầm nh́n như Nguyễn Cơ Thạch
năm 1990 để mở đầu cho một kỷ nguyên dân chủ, ḥa b́nh và phát triển của
Việt Nam, kết quả của hoà giải và hoà hợp thật sự giữa mọi thành phần dân
tộc, trong và ngoài nước. ♣
Maryland, tháng Giêng 2004
GHI CHÚ
[1] .Kết
quả cuộc kiểm tra dân số năm 2000 ở Mĩ cho thấy tổng số người VN ở Mĩ
là 1.224.004 ngừơi, đứng hàng thứ 5 trong số các cộng đồng người Mĩ
gốc Á châu-Thái b́nh dương, sau Trung quốc (2.737.193), Phi luật tân
(2.365.478), Ấn độ (1.911.968) và Hàn quốc (1.228.781). Con số
ngừơi Việt được kiểm tra ở Mĩ chắc chắn là ít hơn con số thực tế, v́
có nhiều cá nhân và gia đ́nh không nộp tờ khai cho Văn pḥng Kiểm tra
Dân số. Theo bản tin ngày 24.12.03 của hăng Thông tấn VN (VNA), có
khoảng 2,7 triệu ngừơi VN sinh sống trên 90 quốc gia và lănh thổ, với
80 % tại các quốc gia phát triển.
[2] .Nguyễn Ngọc Lan,
Phó Giám đốc ngoại hối Ngân hàng Trung ương, căn cứ vào con số hơn 1
tỉ đô la Việt kiều gửi về năm 1999, nhận định rằng,“nếu tính gộp với
số tiền gởi qua những đường dây không chính thức th́ tổng số lên tới
khoảng 3 tỉ đô la Mĩ“. (Daily News-SGT, Jan. 31,2000). Theo Uỷ ban về
Người VN ở Nước ngoài, số tiền Việt kiều gởi về nước năm 2003 là 2,7
tỉ đô la, hơn 20% so với 2002 (VNA, Hanoi, 24.12.03). Nếu tính gộp với
số tiền gởi qua ngă không chính thức th́ tổng số lên tới ít nhất là 4
tỉ đô la.
[3] .VNA, Hanoi
24.12.03. Những con số này tương đương với các con số trong bài „Tham
luận tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ 9 ĐCSVN“ của Thứ trưởng
Ngoại giao Nguyễn Đ́nh Bin (Tạp chí Quê hương, Hà nội, số 5, 5.01,
tr.7)
[4] .Tính đến cuối
6.1998, có 20 chuyên viên tư vấn TOKTEN, trong đó 10 người từ Mĩ, 8
người từ Canada, 1 từ Úc và 1 từ Thuỵ sĩ (VNA 11.10.01). Sau một thời
gian gián đoạn để sửa đổi phương pháp làm việc, UNDP đă tái tục chương
tŕnh TOKTEN vào cuối năm 2001 với số tiền tài trợ là 796.000 đô la.
Chính phủ VN đóng góp 400 triệu đồng [tiền VN]. Theo Thứ trưởng Ngoại
giao Nguyễn Phú B́nh, từ 1989 đến nay mới có „khoảng 40 trí thức kiều
bào về nước làm việc.“ (Quê hương, số đầu năm 2004).
[5] . Trần Văn Trường chủ
một tiệm phim video ở Orange Country, California, treo cờ đỏ sao vàng
và chân dung Hồ Chí Minh trong tiệm của anh hồi tháng 1. 1999. Vụ này
gây nên một loạt những cuộc biểu t́nh chống đối mạnh mẽ trong cộng
đồng, lan rộng tới tất cả những nơi có đông ngừơi Việt cư ngụ. Hai
điểm đáng chú ư: Thứ nhất, thông thường những vụ biểu t́nh chống cộng
chỉ có chừng vài trăm người, nhưng riêng vụ Trần Trường th́ các cuộc
biểu t́nh đều rất đông, có khi lên đến cả chục ngàn người và diễn ra
liên tiếp trong nhiều tháng. Thứ hai, giới trẻ thường vẫn thờ ơ với
sinh hoạt chính trị cộng đồng, nhưng lần này không những chỉ tham gia
đông đảo mà c̣n tổ chức mit-tinh riêng để nói lên nỗi bất b́nh của họ.
Nhật báo The Orange Country Register đă cử phóng viên về tận quê hương
của Trần Trường ở VN để t́m hiểu nguyên do hành động của người cựu tị
nạn này. Bài phóng sự được đăng trên số báo đặc biệt 28 trang ngày
13.6.99, sau được xuất bản thành cuốn sách song ngữ nhan đề „Cội nguồn
bất an“ (Roots of Unrest), tác giả Phan Trần Hiếu, 1999.
[6]
.Robert McNamara, Argument Without End (New
York, Public Affairs, 1999, bài tựa. Mc Namara viết cuốn này 4 năm sau
khi xuất bản cuốn đầu, In Retrospect: The Tragedy and Lessons of
Vietnam (New York, Vintage Books, 1995) và sau 6 phiên họp ở Hà nội
giữa một số học giả, chính trị gia và tướng lănh Hoa ḱ và VN, trong
khoảng từ 11.1995 đến 2.1998, để thảo luận về những bài học trong cuộc
chiến VN.
[7]
. Một thí dụ về phản ứng tiêu cực đối với
quan hệ Việt-Mĩ là việc Bộ chính trị vào giờ chót đă chỉ thị cho Thủ
tướng Phan Văn Khải hoăn kí Hiệp dịnh Thương mại với Tổng thống
Clinton (9.1999) sau khi hai bên đă kí sơ bộ hai tháng trước đó. Thí
dụ thứ hai là TBT Lê Khả Phiêu trong một cuộc hội kiến với TT Clinton
tại Hà nội đă gây nên một sự cố ngoại giao, khi ông nhắc đến chiến
tranh VN như “một thắng lợi lớn của XHCN”.
[8]
.Phúc tŕnh 2003 của Ngân hàng Thế giới về
t́nh h́nh phát triển trên thế giới (World Development Report 2003,
table 1: Key indicators of development).
[9]
. Thí dụ điển h́nh là Mặt trận Quốc gia
Thống nhất Toàn quốc thành lập 1947 qui tụ được các đoàn thể chính trị
và tôn giáo lớn ở trong và ngoài nước để ủng hộ Bảo Đại chống Pháp và
Việt Minh, nhưng chưa đầy một năm đă tan hàng.
[10]
. Diễn văn đọc trước Đại hội đồng Liên hiệp
quốc ḱ thứ 45, 4.10.1990. Bản văn tiếng Anh do Văn pḥng Phái đoàn
Thường trực tại Liên hiệp quốc của Cộng hoà XHCNVN phổ
biến.
Trích trong:
Mục Thời sự , Báo điện tử
của Tạp chí Dân chủ & Phát triển:
www.dcvapt.org
|