Ít
người để ư đến chuyện này là khi các quốc gia bàn luận để thông qua các
văn kiện quốc tế căn bản về nhân quyền, họ đă tránh nói đến chữ “dân chủ”,
cốt để làm cho các quốc gia theo chế độ độc đảng hay “chế độ xă hội chủ
nghĩa” (phần lớn hiểu là các quốc gia cộng sản) có thể sẵn sàng kư vào
các văn kiện đó mà không thắc mắc là, nếu có hai chữ “dân chủ”,hoặc “dân
chủ đa đảng”(multiparty democracy) trong các văn kiện đó th́ có kẹt ǵ
cho chế độ độc đảng, vô sản chuyên chính của họ hay không, và do đó có
thể ngại ngùng không kư phê chuẩn. Khi Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩaViệt Nam
gia nhập Liên hiệp quốc năm 1976 th́ đă chấp nhận Hiến chương Liên hiệp
quốc (trong đó có vài điều khoản về nhân quyền) và Bản Tuyên ngôn Quốc
tế Nhân quyền. Năm 1981, Việt Nam lại kư chấp nhận hai Công ước Quốc tế
về Các Quyền Dân sự và Chính trị và về Các Quyền Kinh tế, Xă hội và Văn
hóa. Tại Hôi nghị Quốc tế Vienna về Nhân quyền tháng 6 năm 1993,Thứ
trưởng Ngoại giao Lê Mai tuyên bố là: “Việt
Nam đến
Vienna họp với một quyết tâm của nhân dân và nhà
nước Việt
Nam cam kết đề cao chính nghĩa
nhân quyền”. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc tại Hà
nội năm 1945 có nói : “ Mọi người sinh ra b́nh đẳng và Tạo hóa đă ban
cho họ những quyền bất khả xâm phạm : quyền sống, quyền tự do và quyền
theo đuổi hạnh phúc”. Tất cả các Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Công ḥa
năm 1946,1959, và Hiến pháp Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1980
và1992 đều có một chương dành riêng cho các quyền công dân.
Nhắc đến
các văn kiện căn bản trên, chúng tôi muốn nói đến hai điểm:
1.
Nhân quyền. Dù theo chế độ độc đảng, khi th́ gọi là “dân chủ xă hội',
khi th́ là “dân chủ nhân dân”, theo nguyên tắc “dân chủ tập trung”, hay
“vô sản chuyên chính” đi nữa, th́ nghĩa vụ nhà nước Viêt Nam phải tôn
trọng nhân qưyền đă có từ suốt năm 1945 cho đến nay, từ những lớ tuyên
bố long trọng của Hồ Chí Minh qua các văn kiện căn bản quốc nội và quốc
tế (trong thực tế ,có tôn trọng đến mức nào hay không th́ bài tham luận
ngắn này chưa bàn tới). Chúng tôi đă có dịp nhắc nhở Việt Nam trong Hội
nghị tháng 2,năm 1993 tại Hawaii giữa hai phái đ̣an Việt và Mỹ ( mỗi bên
gồm có các nghị sĩ, dân biểu, thứ trưởng ngọai giao, giáo sư, học gỉa và
cơ quan phi chính phủ): cô Sydney Jones của cơ quan Human Right Watch đă
đưa ông Lê Mai cuốn sách chúng tôi viết về Truyền thống Nhân quyền Việt
Nam (The Vietnamese Tradition of Human Rights) và hỏi “Liệu Việt Nam
có tiếp tục truyền thống nhân quyền tốt đẹp thời vua chúa và tôn trọng
nhiều hơn các tiêu chuẩn nhân quyền đă cam kết hay không?”. Chúng
tôi có nói rỡn với ông Lê Mai, nửa đùa nửa thật : “Ngày xưa, các
hoàng đế Việt Nam, tuy theo chế độ quân chủ chuyên chế, đă tôn trọng
nhân quyền đến mức khá cao; th́ ngày nay, mười mấy 'hoàng đế ' trong
Chính trị bộ, dù theo chế độ chuyên chính/ độc đảng, vẫn có thể tôn
trọng nhân quyền của dân nếu thành thật trong cam kết của ḿnh”. Ông
Lê Mai, nhà ngọai giao lịch duyệt, mời cô Sydney Jones sang Việt
Nam sau đó để quan sát về t́nh
trạng nhân quyền.
2.
Dân chủ. Dù các văn kiện quốc tế Việt Nam kư kết không nhắc đến chữ dân
chủ và luật quốc nội Việt Nam không nói đên dân chủ đa đảng, nhưng Công
ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (điều 25), và Hiến pháp
Việt Nam (điều 6,7,54) có nói đến một số nguyên tắc căn bản, mầm mống
của dân chủ: quyền bầu phiếu trực tiếp và kín trong một cuộc bầu cử
trung thực (genuine elections), và quyền ứng cử vào các chức vụ dân cử .
Với sự sụp đổ của vô sản chuyên chính độc đảng tại quê hương của Cộng
sản là Liên sô và tại các nước Đông Âu, với sự lan tràn của lư tưởng dân
chủ trên khắp thế giới (hầu khắp các nước Á Đông trong 30 năm qua), đă
đến lúc người Việt Nam, dù sống trong nước hay sống tại hải ngọai nhưng
vẫn thương yêu đồng bào ḿnh tại quê hương cũ, có thể và có quyền bàn
đến vấn đề dân chủ tại Việt Nam, để cái mầm mống pháp luật của dân chủ
vừa nói trên phát triển mạnh, cho dân tộc Việt Nam tiến thêm một chặng
đường , hưởng không những sự tôn trọng nhân quyền mà cả nếp sống dân chủ
thực sự nữa. Vả lại, việc bàn luận này cũng hợp thời ngay tại hai nước
cộng sản c̣n lại tại Á Châu là Việt
Nam và Trung quốc. Tại Việt Nam,
ngày nay không c̣n ai nói tới vô sản chuyên chính và đấu tranh giai cấp,
nhứt là sau khi ông Đỗ Mười tuyên bố là có hai lầm lẫn lớn là đánh địa
chủ trong cải cách điền địa năm 1953-54 và đánh tư sản miền Nam năm
1979. Về phần Trung quốc, th́ Thủ tướng Trung quốc đă tuyên bố tại Đại
học Harvard vào tháng 12,2003 là sẽ nỗ lực dân chủ hơn (xin xem dưới đây).
A.
Việt Nam có truyền thồng dân chủ hay không?
Muốn
trả lời câu này th́ trước hết phải định nghĩa dân chủ là ǵ. Dân chủ
đích thực, chứ không phải là thứ dân chủ giả hiệu, chỉ có h́nh thức mà
thôi.
Một
nền dân chủ chính trị đích thực phải tôn trọng những nguyên tắc căn bản
sau đây.
1.Chủ quyền thuộc về toàn dân, tức là phải tôn trọng ư chí của nhân dân
trong việc trị nước, nhất là trong việc ủy thác/ chuyển giao quyền bính,
nghĩa là phải có các cuộc bầu cử định kỳ và trung thực, để có thể thay
đổi lănh đạo theo ư dân, chứ không để cho một người hay một tầng lớp
người ngự trị măi.
2.Vai tṛ chính quyền phải có giới hạn, chứ không thể toàn trị hay độc
đóan, trong tương quan giữa chính quyền và người dân: tương quan này do
một nền pháp trị (rule of law) điều hành, trong đó các quyền tự do căn
bản của người dân phải được tôn trọng. Chính quyền không thể toàn trị ,
xâm nhập vào mọi lănh vực đời sống tư, hay độc đoán, ban hành luật lệ
theo ư riêng chứ không theo ư các đại diện nhân dân. Nếu có thể được,
th́ ngành tư pháp phải đóng vai người bảo vệ/ che chở cho các quyền tự
do của người dân chống lại các quyết định độc đóan của hành pháp.
3.
Chính quyền phải giới hạn theo nghĩa thứ hai, tức là trong tổ chức của
các cơ quan nhà nước, phải có sự phân quyền giữa ba ngành lập pháp, hành
pháp và tu pháp, và sự kiểm soát lẫn nhau và thăng bằng với nhau giũa
các quyền này, chứ không thể có t́nh trạng hành pháp, chẳng hạn, quá
mạnh để đi đến chỗ “vừa làm cầu thủ đá bóng, vừa làm trọng tài thổi c̣i”
trong cuộc đấu chính trị.
4.
Muốn cho ư người dân được tôn trọng trong việc chuyển giao quyền hành,
thay đổi người cầm quyền theo ư dân, th́ phải có sự cạnh tranh giữa các
cá nhân và các nhóm lănh đạo xă hội trong diễn tiến chính trị (họ có thể
họp lại thành các tổ chức, đoàn thể, hay đảng đối lập nhau), và phải có
sự cạnh tranh giữa các quan điểm về quản trị đất nước trong bầu không
khí tôn trọng tự do tư tưởng và ngôn luận.
Kinh nghiệm của các nước dân chủ cho biết là, khi nỗ lực tiến tới các
tiêu chuẩn dân chủ trên, nếu có những nền tảng căn bản tức là những điều
kiện xă hội tiên quyết th́ có thể làm cho dễ dàng có dân chủ hơn. Thí
dụ: nếu có phát triển kinh tế và giáo dục đại chúng th́ người dân có thể
không sợ “bể nồi cơm” mỗi khi ngôn luận chống lại khuynh hướng độc tài
của chính quyền, và đông đảo người dân sẽ có ư thức và điều kiện tham
gia các họat động và các tổ chức công cộng trong diễn tiến chính trị dân
chủ và các người cầm quyền cũng sẽ tin tưởng là có chỗ rút lui về đời tư
mà vẫn duy tŕ được cuộc sống tốt đẹp, không cần phải tham quyền cố vị
và khỏi lo rằng ḿnh mất chức là mất tất cả. Những cuộc nghiên cứu về
dân chủ trong hai mươi năm qua cho thấy là nếu lợi tức đầu người trên
khỏang 4,500-5,500 Mỳ kim mỗi năm th́ dễ có dân chủ hơn, c̣n lợi tức đầu
người ít hơn số đó, th́ khó có dân chủ hơn (tuy cũng có ngọai lệ như Ấn
độ, nghèo hơn, nhưng vẫn có dân chủ, hoặc có nước giầu hơn mức đó như
Tunisia, lại thiếu dân chủ). Một điều kiện tiên quyết khác để có dân chủ
chính trị là, phải có sự đồng thuận của quốc dân về một số những điều
căn bản trong đời sống của dân tộc th́ mới có sự tương nhượng và thỏa
hiệp và do đó, sự ổn định chính trị, để mà sinh hoạt dân chủ (thí dụ:
phaỉ có mức độ tối thiểu đ̣an kết hay sống chung giữa các sắc dân họp
thành dân tộc, chứ không thể có nạn ly khai, nhứt là bằng vơ lực, làm
tan ră đất nước ; phải có một tầng lớp cán bộ hành chánh trung lập lo
việc công, chứ không phục vụ riêng phe phái nào). Chứ nếu có những sự
chia rẽ trầm trọng trong xă hội th́ có thể đi đến chỗ đổ vỡ v́ bạo động,
hết c̣n dân chủ; nhưng chỉ cần sự đồng thuận về những điều căn bản thôi,
v́ ép người dân theo một quan điểm xây dựng đất nước duy nhất, th́ không
c̣n là dân chủ nữa.
Xét theo
các tiêu chuẩn dân chủ nói trên, th́ có thể nói Việt Nam thời quân chủ (trước
thời Pháp thuộc) chưa có một truyền thống thực sự dân chủ, v́ không cho
phép người dân có thể họp lại thành các nhóm đối lập để cạnh tranh trong
một diễn tiến bầu cử để thay đổi nhà cầm quyền cao nhất . Tuy rằng dưới
nhà vua, các tầng lớp sĩ phu được quyền cạnh tranh qua thi cử để ra làm
quan, trở thành những tầng lớp thống trị, nhưng vẫn là dưới quyền chuyên
độc của nhà cầm quyền tối cao là nhà vua. Việt Nam thời quân chủ đă tiến
tới một tŕnh độ khá cao trong nền pháp trị và đă tôn trọng rất nhiều
nhân quyền của người dân (như chúng tôi đă có dịp tŕnh bày trong cuốn
sách Truyền Thống Nhân Quyền Việt Nam-The Vietnamese Tradition of Human
Rights-, xuất bản tại University of California-Berkeley, có trong thư
viện các trường đại học, kể cả Đại học Hà nội). Nhưng Việt
Nam thời cổ vẫn chưa có dân chủ
thực sự tới mức độ cao. Hội đồng Kỳ mục trong các xă được chọn ra theo
lối suy cử và đề cử, rồi có nhà vua phê chuẩn, chứ không phải là do một
cuộc bầu cử. Hội nghị Diên hồng cũng là do nhà vua triệu tập để tham
khảo ư kiến dân về một việc là vấn đề chống ngoại xâm, không phải là một
định chế quốc hội thường trực do dân bàu ra để lo việc lập pháp.
- Làm thế nào tiến
tới dân chủ ở VN ?
Có
người đặt câu hỏi này để ám chỉ Việt
Nam thời cận đại và hiện đại
chưa có dân chủ ḥan ṭan và c̣n phải cải tiến nhiều nữa mới có dân chủ
thực sự.
Xét lại chế độ
chính trị của Việt Nam thời cận đại, th́ có thể nói Miền Nam Việt Nam từ
1954 cho đến 1975 cũng chưa có một thể chế dân chủ thực sự hay ḥan hảo,
và mầm mống dân chủ có vẻ được khuyến khích nhưng có khi bị chặt đứt ,
v́ ông Ngô Đ́nh Diệm thiết lập chế độ Cộng ḥa nhưng lại sắp xếp cho
ḿnh thắng với số phiếu 95% ǵ đó trong cuộc bỏ phiếu truất phế Quốc
trưởng Bảo Đại , mà không có ông Bảo Đại trong nước để cùng tranh cử,
theo đúng nghĩa một cuộc bầu cử dân chủ, có tự do cạnh tranh. Năm 1967,
có cuộc bầu cử tương đối tự do, th́ bốn năm sau, 1971, lại có cuộc độc
diễn tuyển cử của ông Nguyễn Văn Thiệu, v́ chính quyền ông Thiệu dùng
mọi cách để gạt các liên danh tranh cử khác ra, khiến họ bỏ cuộc.
Chế độ Cộng
ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt
Nam hiện nay cũng chưa cho phép
một sự canh tranh hoàn toàn trong việc bầu cử nhà cầm quyền tối cao. Có
một mức độ dân chủ nào đó trong việc bầu cử Hội đồng Nhân dân Xă,Tinh,
và Quốc hội, v́ trong những cuộc bầu cử gần đây, số ứng cử viên cạnh
tranh trong một đơn vị bầu cử đă nhiều hơn số ghế trong đơn vị ấy. Nhưng
sự cạnh tranh giữa các ứng cử viên c̣n rất giới hạn. V́ phân tích kỹ,
th́ ta thấy rằng, chẳng hạn, nhiều đơn vị có 3 ghế nghị viên hay dân
biểu, th́ chỉ có 4 hay 5 người đươc phép ra tranh cử mà thôi, nghĩa là
các người trúng cử như đă được sắp xếp bởi Đảng và Mặt trận Tổ quốc cho
thắng cử, mấy người thất cử th́ số rất ít và chỉ là “lót đường” hay là
bày hàng cho đẹp cuộc bầu cử mà thôi. Việc Đảng, qua Mặt trận Tổ quốc,
sắp xếp cho kết quả cuộc bầu cử đúng theo ư chỉ huy của ḿnh, chứ không
theo ư dân, th́ ta có thể thấy ngay trong việc chấp thuận cho ứng viên
ra ứng cử : nếu ứng cử viên không đựơc Mặt trận Tổ quốc (do Đảng kiểm
soát) đề cử, th́ không ra ứng cử và trúng cử đựơc. Việc tuyển ngừơi vô
các cấp lănh đạo cao nhất, như Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Nước, Chánh
án Ṭa án Nhân dân Tối cao, Thủ tướng, th́ do Quốc hội bầu, nhưng trong
cuộc bầu cử đó, đă có sự sắp xếp trong nội bộ các đảng viên quan trọng
của Đảng (gọi là “cuộc bầu thử”), chứ không do một cuộc bầu cử bởi người
dân và theo ư người dân. Đảng chỉ huy hết mọi cuộc bầu cử, từ ở
cấp tỉnh cho đến cấp quốc gia, Đảng gạt bỏ sự cạnh tranh thực sự của các
người đối lập, và ngay Hiến pháp cũng ghi rơ Đảng độc quyền lănh đạo.
Về cách làm thế
nào để tiến tới dân chủ nhiều hơn ở Việt
Nam, th́ chúng tôi thiết nghĩ
trước hết phải tạo những điều kiện tiên quyết đă nói trên cho việc phát
huy nhân quyền và dân chủ , tức là đặt nền tảng căn bản. Ư kiến nằy,
chúng tôi đă phát biểu vào năm 1990, trong một bài thuyết tŕnh trong
Ṭa Bạch ốc khi Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ hỏi ư kiến một số Việt kiều
tại Mỹ về vấn đề bỏ cấm vận và bang giao với Việt Nam; trong bài báo dài
về “Vai tṛ trí thức chuyên viên Việt Nam hải ngoại” đăng trên nhiều báo
của người Việt Nam tại Mỹ; cũng như vào năm 1993, trong Hội nghị Hawaii
giữa các nghị sĩ, dân biểu, giáo sư, học giả và Thứ trưởng ngọai giao
của Hao Kỳ và của Việt Nam, là : Mỹ nên bỏ cấm vận, cho nhiều nhà đầu tư
và thương mại vô Việt Nam, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhứt là khu vực
tư, làm cho người dân Việt Nam đỡ khổ, được tự chủ và độc lập khỏi chính
quyền về kế sinh nhai và lợi tức, không lệ thuộc vào chế độ hộ khẩu tức
là phải xin nhà nước cơm gạo, do đó bớt sợ chính quyền, dám đ̣i tự do
ngôn luận và các tự do căn bản khác; việc mở cửa ra bên ngoài cũng khiến
sự hiểu biết của người Việt Nam về các chế độ và xă hội cởi mở khác cũng
như các trào lưu dân chủ trên thế giới và khiến họ cũng muốn được hưởng
tự do và dân chủ như vậy. Tất cả những điều đó là xây dựng nền tảng cho
dân chủ.
Các diễn tiến
này đă và đang sảy ra tại Việt
Nam. Khách quan mà nói, Chế dộ
Cộng ḥa Xă hội Việt Nam hiện nay, vô h́nh chung, dù muốn hay không, và
có phần là chẳng đặng đừng, cũng đă tạo một số điều kiện xă hội tiên
quyết thuận lợi cho việc tiến tới dân chủ , như đẩy mạnh kinh tế thị
trường cho ngướ dân có mực sống cao hơn, phát triển giáo dục đại chúng
và đại học cho dân trí khá hơn, tạo sự đồng thuận quốc gia về một số
định hướng căn bản cho quốc gia như kinh tế thị trường và đổi mới để có
ổn định xă hội, tức là những điều kiện căn bản tiên quyết của dân chủ,
và cũng đă tôn trọng sự cạnh tranh dân chủ trong nội bộ đảng viên trong
các kỳ bầu cử các đảng bộ từ dưới cấp cơ sở đi lên tới trung ương tức
Đại hội Đảng (nhưng đây là dân chủ giũa các đảng viên, chứ chưa phải là
dân chủ trong toàn dân).
Xét
cho cùng, việc có đẩy mạnh được hơn nữa dân chủ tại Việt Nam hay không,
tức là đ̣i hỏi chế độ tôn trọng nhiều hơn các tiêu chuẩn hay nguyên tắc
dân chủ đă nói trên, th́ tuỳ nhiều nhất vào sự tranh đấu của đồng bào
Việt Nam ở trong nước, chứ c̣n cộng đồng người Việt hải ngọai chỉ có thể
trợ lực về mặt tinh thần, hỗ trợ qua truyền thông và vận động áp lực
quốc tế.
Phải
công nhận là các nhà vận động cho dân chủ ở trong nước đă có công và can
đảm tranh đấu cho dân chủ, từ phong trào báo chí như báo “Truyền thống
Kháng chiến”, đến văn nghệ đối kháng, rồi đến áp lực để chính quyền có
thái độ “cởi tróí” như ông Bí thư Nguyễn Văn Linh đề ra.
Nếu toàn dân (chứ
không phải chỉ đảng viên mà thôi) cứ tiến hành càng ngày càng mạnh những
đ̣i hỏi thi hành các nguyên tắc dân chủ, th́ con đường dân chủ hóa tại
Việt
Nam sẽ là một cuộc tiến bộ bất
khả phản hồi, theo trào lưu chung của nhân lọai. Trong trào lưu chung
của nhân lọai này, có cả nước cộng sản lớn nhất thế giới, là Trung quốc,
cũng là đàn anh và nhiều khi cũng là khuôn mẫu cho Đảng Cộng sản Việt
Nam ( Việt Nam đă từng coi chừng xem Trung quốc làm ǵ, th́ cũng phỏng
theo: Trung quốc mở cửa [open door] th́ Việt Nam đổi mới [ renovation];
Trung quốc tu chính luật chấp nhận thành phần doanh nhân vô Đảng Cộng
sản, th́ Việt Nam cũng bàn về điều đó). Nhân cuộc thăm viếng chính thức
nước Mỹ và sau khi gặp Tổng thống Mỹ bàn về việc bành trướng thương mại
và đầu tư giữa hai nước trong khung khổ Tổ chức Thương mại Quốc tế, th́
Thủ tướng Trung quốc Ôn Gia Bảo (Wen Jiabao) đă đọc diễn văn trước một
cử tọa đông đảo tại Đại học Harvard ngày 10 tháng 12,2003, tuyên bố là
Trung quốc cam kết theo đuổi mục tiêu cuối cùng là Dân chủ, v́ rằng sự
kính trọng quyền tự do của dân chúng theo đuổi hạnh phúc đă đưa tới
thành quả kinh tế lớn lao của Trung quốc, và ông nói sẽ dần dần thực
hiện dân chủ ṭan diện (full democracy), điều này cần nhiều năm v́ cần
phải nâng cao dân trí qua giáo dục. Ông cũng nói Trung quốc đang nỗ lực
làm việc để cải tiến thêm thành tích nhân quyền của họ. Thế nào các
ngướ sáng suốt, nhứt là thánh phần trẻ, trong Đảng Cộng sản và Nhà nước
Việt Nam sẽ phải thấy là một nước lớn như Trung quốc cũng phải nhận ra
bài học so sánh Brazil và Hoa kỳ: Brazil cũng là một quốc gia lớn và
nhiều tài nguyên như Hoa kỳ, nhưng v́ chế độ độc tài quân phiệt nên đă
không phát huy được sức làm việc và khả năng sáng tạo để phát triển kinh
tế như nền dân chủ hơn 225 năm của Mỹ.
Nhưng
có điều là người dân Việt
Nam cũng nên kiên tŕ trong
việc đấu tranh thực hiện dân chủ. Nền dân chủ lâu đời của Mỹ cũng đă
phải trải qua hàng trăm năm mới dần dần thực hiện được dân chủ , mà cũng
c̣n khuyết điểm . Tổng Thống Lincoln ra Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ
trong thời Nội chiến Mỹ thế kỷ 19, mà cả hơn trăm năm sau, người da đen
vẫn phải tranh đấu trong Phong trào Dân quyền của thập niên 1960 (mà
lănh tụ nổi danh là M.L. King), th́ mới có các Luật về Dân quyền và Bầu
cử (civil rights acts,voting rights acts) để người da đen được tham gia
bầu cử (và ứng cử) mà không bị chèn ép. Nước Mỹ cũng có cái nạn,
những người đang cầm quyền th́ có khuynh hướng bám chặt lấy chính quyền,
từ chối không mưốn làm ra các luật lệ bầu cử công bằng hơn để cho các
người khác có cơ hội ra tranh cử và trúng cử. Phải gần 30 năm
trời tranh đấu từ 1971 đến năm 2002 th́ các nhà cải cách luật pháp mới
thuyết phục được đủ số phiếu trong Quốc hội Mỹ để thông qua được Luật
Cải tổ Tranh cử của Lưỡng Đảng (Bipartisan Campaign Reform Act), để hạn
chế bớt cái nạn các thế lực tài chánh (các công ty lớn, các nghiệp đ̣an,
các hiệp hội, các người giầu có)
dùng biện pháp “cả vú
lấp miệng em ”, dùng tiền bạc để làm tràn ngập các phương tiện thông tin
để ủng hộ các ứng cử viên thiên về các thế lực giàu có đó. Thế mà cũng
có các thế lực đó khởi kiện, đ̣i bỏ các hạn chế đó, và Tối cao Pháp viện
Mỹ, ngày 10 tháng 12,2003, đă phải tuyên bố là các hạn chế việc sử dụng
quá đáng quyền tự do ngôn luận đó (dùng tiền bạc để “ cả vú lấp miệng em”)
là cần thiết để bảo vệ nền dân chủ (trong bản án này, phe đa số 5 thẩm
phán đă thắng phe thiểu số 4 thẩm phán, trong đó có Chủ tịch Tối cao
Pháp viện Mỹ là Rehnquist, người mà ngày xưa lúc c̣n trẻ đă đứng trước
pḥng phiếu để vặn hỏi người da đen xem họ có biết chữ hay trả lời được
một số câu hỏi th́ mới cho vô pḥng phiếu !!).
Vậy muốn
có dân chủ, phải “ trường kỳ kháng chiến”, nhứt là trong trường hợp
những người cầm quyền không những có tiền “ cả vú lấp miệng em'' , mà
c̣n có thể “ lấy thịt đè người” . ♣